Hiển thị các bài đăng có nhãn FANTASY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn FANTASY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

172 GIỜ TRÊN MẶT TRĂNG: PHÍA TỐI KINH HOÀNG



Từ bộ tiểu thuyết giả tưởng đầu tiên về đề tài du hành vũ trụ của Jules Verne năm 1865 (tựa đề De la terre à la lune – tạm dịch: Từ Trái Đất lên Mặt Trăng) cho tới bộ phim câm năm 1902 của đạo diễn Georges Méliès có tên Le Voyage dans la Lune (tạm dịch: Hành trình đến Mặt Trăng), và rất nhiều những tác phẩm văn học hay điện ảnh sau này, loài người dường như có một khát khao không bao giờ vơi cạn được khám phá và am hiểu tường tận Mặt Trăng - tinh cầu bí ẩn nhưng cũng quá đỗi thân quen. Và cuốn 172 giờ trên Mặt Trăng của nhà văn người Áo – Johan Harstad có thể coi như một tiếp nối đầy ấn tượng.

172 giờ trên Mặt Trăng diễn ra trong bối cảnh NASA khởi động lại chiến dịch đưa con người quay trở lại khám phá Mặt Trăng, tiếp tục sứ mệnh bị bỏ dở từ thập niên 70. Trong lần quay trở lại này, phi hành đoàn không chỉ bao gồm các phi hành gia được đào tạo bài bản mà còn có ba thiếu niên được lựa chọn ngẫu nhiên trong số hàng triệu thiếu niên đáp ứng đủ các yêu cầu. Nhóm thiếu niên được đưa vào chương trình một mặt nhằm lôi kéo sự chú ý của giới trẻ và truyền thông, trong nỗ lực phục hưng lại ngành nghiên cứu tưởng như đã trôi vào dĩ vãng này. Một kế hoạch được tính toán vô cùng tinh vi, tưởng chừng như không có bất kì một sai sót, tất cả, ngoại trừ việc không một ai biết chính xác điều gì đang chờ đợi họ ở Biển Yên Bình – vùng biển cạn trên bề mặt Mặt Trăng.

Ba thiếu niên gồm Mia (người Na Uy), Midori (người Nhật) và Antoine (người Pháp) là những người giành được tấm vé lên Mặt Trăng đầy mơ ước. Tuy nhiên với mỗi người trong số họ, sứ mệnh này lại có những ý nghĩa rất khác nhau. Với Mia – cô ca sĩ của một nhóm nhạc Rock địa phương, thì đó là một cơ hội để đưa sự nghiệp của mình sang trang mới, trong khi với Midori – cô gái với khát vọng nữ quyền, Mặt Trăng là tấm vé giải thoát khỏi cuộc đời trưởng thành nhàm chán đã bày ra trước mắt; còn với Antoine, sứ mệnh này lại là một cuộc đào thoát khỏi mối tình vô vọng. Mỗi người trong số họ đều sống những cuộc đời khác nhau, lâm vào những bế tắc khác nhau, nhưng tựu trung lại, Mặt Trăng đều xuất hiện như một lối thoát, một con đường mới đầy tươi sáng.




Nhưng như cả ngàn năm nay cuộc đời đã luôn vận hành như thế, những kẻ tiên phong luôn là những kẻ phải trả giá đắt. Mia, Midori và Antoine là những thiếu niên đặc biệt, họ được trao cho cơ hội làm những thiếu niên đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng, được nhìn thấy điều mà hàng tỉ người không có cơ hội được thấy, được sống một cuộc đời mà chưa ai từng được sống… và cả những hiểm nguy chưa ai tùng đối mặt. Chuyến đi lên Mặt Trăng sẽ là một trải nghiệm để đời với từng người trong số họ, nhưng với điều kiện, họ có thể tìm được đường về, như kẻ tiên phong kia cuối cùng cũng đến được với chân lý.

Đứng trên một Mặt Trăng hoang vu, bị đe doạ tính mạng bởi những kẻ lạ mặt với sức mạnh siêu nhiên, những thiếu niên cam đảm ấy sợ hãi nhất điều gì? Sợ hãi những kẻ ngoài kia, sợ hãi cái chết bất ngờ, hay sợ hãi chính những con người trên Trái Đất, những kẻ đã biết trước mọi nguy hiểm nhưng vẫn đẩy người ta vào chỗ chết, chỉ để kiểm chứng lại những học thuyết và tham vọng điên rồ của mình? Đến phút cuối cùng, trước lằn ranh sinh tử, bị phản bội, bị nuốt chửng bởi nỗi sợ hãi, thì thứ đáng sợ nhất có lẽ là hi vọng. Hi vọng cho người ta động lực, nhưng hi vọng lại là thứ huỷ hoại người ta nhanh nhất vì nó rất dễ sụp đổ, như cách Mia đã nghĩ. Cô không tin vào hi vọng, cô tin vào bản thân mình, tin vào cuộc đấu tranh sinh tồn trong khu căn cứ hoang tàn tĩnh lặng. Và niềm tin ấy đã giúp cô “gần như” chiến thắng. Có  quan điểm xã hội học cho rằng, tin vào bản thân mình cũng là một hình thức của sự sợ hãi và mất niềm tin, khi con người ta không biết đặt niềm tin vào ai khác ngoài chính mình. Nhưng trong đa số các trường hợp, niềm tin vào bản thân chính là cơ sở cho mọi niềm tin khác, và có lẽ là thứ niềm tin còn lại sau cùng khi người ta lâm vào tuyệt vọng.

Có thể coi 172 giờ trên Mặt Trăng vừa giống như cuốn nhật trình ghi lại quãng thời gian phi hành đoàn tàu Ceres thực hiện sứ mệnh trở lại Mặt Trăng, lại vừa giống với một cuốn nhật ký lưu giữ lại từng sự kiện, từng suy nghĩ của mỗi người trước và trong khi tham gia cuộc hành trình ấy. Một cuốn nhật ký dở dang, và một cuốn nhật trình chết chóc.

Như Johan Harstad đã kể lại trong phần Lời tác giả, trong quá trình tìm kiếm một sự sống khác ngoài không gian, một “đồng minh” để thấy giống loài mình không cô độc, con người đã gửi ra ngoài vũ trụ hai cuốn băng ghi lại những thông tin như cấu trúc sinh học, âm nhạc và nghệ thuật, những thứ đủ để hiểu được về loài người và nền văn minh họ đã xây dựng nên. Những cuốn băng ấy giống như một lời chào đón nhiệt thành gửi tới những người bạn phương xa, nhưng đã bao giờ bạn đặt ra giả thuyết rằng, đó chính là lời mời gọi cho một cuộc xâm lăng từ bên ngoài Trái Đất?

Điều không tưởng ấy là một mối đe doạ thực sự. Sau hàng triệu năm tiến hoá, con người có lẽ đã mất đi sự cảnh giác bản năng, trở nên kiêu ngạo, tự phong mình là những kẻ chinh phục. Chúng ta đã đánh mất đi sự khiêm nhường trước những thế lực vượt ngoài tầm hiểu biết. Bi kịch bắt đầu từ khoảnh khắc ấy. Vũ trụ vô cùng bao la, và con người chỉ là một dấu chấm nhỏ nhoi dễ dàng bị xoá bỏ. Chúng ta không biết rõ về khoảng không gian vô tận ngoài kia như chúng ta hằng tưởng, sự kiêu ngạo và vốn hiểu biết hữu hạn ấy, cuối cùng sẽ dẫn dắt loài người đến bờ vực diệt vong, không chỉ trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng hơn 300 trang này, mà còn trong cả cuộc đời thực chúng ta đang sống. “Tất cả các ngươi sẽ chết”, và chính con người đã tự đào hố chôn mình.

172 giờ trên Mặt Trăng được ca ngợi bởi sự “hoài cổ” khi xây dựng bối cảnh bằng chất liệu từ những bộ phim du hành vũ trụ những năm 80. Sự hoài cổ ấy không chỉ đơn thuần là phông nền bối cảnh, nó còn là mô hình xây dựng cao trào với mở đầu dài trong bình lặng, kịch tính tăng dần về nửa cuối trước một cú chốt bùng nổ. Phần đầu truyện diễn ra khá chậm, phải mất tới hơn một nửa cuốn sách, bạn đọc mới theo chân nhóm thiếu niên đến được Biển Yên Bình nơi đặt căn cứ DARLAH 2 – một sự chuẩn bị tâm lý vừa đủ để bạn đọc trở nên yêu quý các nhân vật, và sẵn sàng sát cánh bên họ trong cuộc phiêu lưu tưởng tượng. Nhưng từ sau thời điểm ấy, tiết tấu  truyện trở nên dồn dập, nhanh chóng với những cú ngoặt bất ngờ - có thể tưởng tượng giống như tốc độ một quả tên lửa rời bệ phóng khiến người đọc, đôi khi là cả nhân vật, không có đủ thời gian để kinh hoàng.



Bên cạnh một kết cấu truyện được xây dựng công phu, thì sự hoà trộn giữa các thể loại cũng là một nét vô cùng đặc sắc. 172 giờ trên Mặt Trăng được sáng tác trên hai thể loại chính là khoa học viễn tưởng và kinh dị, xen lẫn một chút tâm lý tuổi mới lớn. Trong khi nửa đầu tác phẩm tập trung vào thể loại khoa học viễn tưởng và tâm lý, kinh dị chỉ lướt qua trong một vài chi tiết nhỏ, đủ đề người đọc giật mình thì trong nửa cuối, tác phẩm gần như là sự độc diễn của thể loại kinh dị, mà trong đó, khoa học viễn tưởng chỉ là xúc tác để câu chuyện đạt được sự ghê rợn cần thiết. Tất nhiên, tuy đáng sợ, nhưng cũng nhiều suy tưởng và giàu cảm xúc yêu thương. Johan Harstad đã viết nên một câu chuyện lạ kì, mà trong đó, anh xây dựng nên mỗi nhân vật với những câu chuyện đời khác nhau; những câu chuyện mà khi chúng kết thúc, ta có thể không hiểu đến tận cùng, nhưng đều tin vào tính chân thực của nó cũng như có được cho mình những lí do để tha thứ cho họ dù đã phản bội, hay lừa dối ta.

Nếu như Jules Verne ở thế kỉ thứ 19, thời đại của các mạng khoa học công nghệ, của cơ khí phát triển, của một kỉ nguyên khám phá nhìn Mặt Trăng như một miền đất hứa, một môi trường hoàn toàn mới lạ để chinh phục, thì ở thế kỉ 21 của công nghệ số, nhà văn người Na Uy Johan Harstad, hoà chung vào dòng suy tưởng của những nhà văn đương đại, lại nhìn tinh cầu này bằng một sự hoài nghi xen lẫn nỗi kinh sợ. Đây cũng là xu hướng mới trong sự phát triển của dòng truyện khoa học viễn tưởng, khi mọi thứ đều trở nên cũ mòn, và loài người dường như đang mất đi cái nhìn lạc quan vào cuộc sống quanh mình.


Phan Hải Anh

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

"A" - Sắc xanh tĩnh lặng (2)

3
Sau khi băng qua cánh đồng dương xỉ vẫn còn ướt đẫm sương, tôi tiến vào khu rừng đã hiện ra trước mắt. Khác với rừng trên ngọn núi có ngôi nhà của tôi – bao phủ bởi những cái cây to với bộ rễ kềnh càng chở trên mình hàng đống dây leo nhằng nhịt, loại cây chiếm ưu thế ở đây lại là thông và họ hàng của nó. Thẳng tắp, và toả ra mùi tinh dầu nhè nhẹ. Không khí ở đây có vẻ loãng hơn phía bên kia của thung lũng.
Tôi bắt đầu thấy khó thở, rồi chóng mặt. Những mảnh cuối cùng của bữa sáng trong dạ dày tôi chỉ trực trào ngược ra ngoài. Da tay và mặt tôi bắt đầu nóng lên và ngứa kinh khủng. Tôi loạng choạng ngã xuống một gốc cây gần đó. Chỉ đến lúc này tôi mới nhận ra không chỉ tay, mặt mà cả quần áo tôi đều bám đầy một thứ lông màu vàng nhạt. Thứ lông này cũng lơ lửng khá nhiều trong không khí. Tôi đã quá hấp tấp và bị tấn công. Vội vã đứng lên khỏi gốc cây, rũ sạch đám lông khỏi người, tôi kinh hãi nhận ra xung quanh chỗ mình vừa ngồi la liệt những con sâu lông béo múp phủ đầy thứ lông màu vàng nhạt kia. Mỗi khi vô tình chạm phải chúng, những sợi lông lại bung ra tự vệ.
SÂU RÓM. CHẾT TIỆT.
Tôi vội vã tháo chạy khỏi khu rừng, đầu hoa lên vì thiếu ô xi, và vì cơn ngứa kinh hoàng. Nháo nhào, tôi ngã vào đám dương xỉ và lăn tròn.
                                                                    ...

Sau cuộc tháo chạy khỏi đám sâu lông lá trong rừng thông, tôi mất trọn một tuần để chuẩn bị cho cuộc thám hiểm tiếp theo. Một tuần, trong đó phân nửa thời gian là để những vết sưng phồng xẹp xuống và cơn ngứa dứt hẳn. Liệu pháp chữa trị duy nhất tôi có được là những búi rong màu xanh thẫm ướt nhớp nháp vớt được từ dưới lòng suối-sông, một nhánh nước trong chảy ra từ khe núi mà tôi hay hứng nước. Đám thuỷ sinh có mùi không mấy thân thiện, nhưng tác dụng làm mát và giảm sưng của chúng thì thật đáng kinh ngạc.
Thời gian còn lại trong số những ngày chuẩn bị ấy, tôi dành cả ở thư viện “của tôi”. Vượt sông, chạy trốn đám sấu-sói lẩn trốn giữa những bụi cỏ, đôi lúc, không còn lựa chọn nào khác, tôi đành phải vung rìu chém chúng. Chiếc rìu với lưỡi cùn mẻ gây ra những vết thương vô cùng kinh dị. Điều này làm tôi nghĩ đến việc mình cần tìm một cuốn sách nào đó nói về cách làm sắc lại lưỡi rìu.
Thư viện là một khu nhà, mà so với tất cả những tàn tích tôi từng nhìn thấy, hoàn toàn nguyên vẹn. Những khối nhà được nối với nhau bằng những đoạn hành lang dày cỏ, có lẽ đã từng được sơn trắng. Một vài ô cửa sổ bị vỡ, nhưng không vì thế mà những cuốn sách bên trong nó bị ảnh hưởng. Tôi thường chui qua một cửa thông gió ở bên hông nhà, đột nhập vào kho lưu trữ, một toà nhà nằm tách biệt với khu tổ hợp kể trên. Một phần mái kho lưu trữ bị sụp xuống bởi ngọn của cái cây cổ thụ gần đó. Cái cây đổ nghiêng, tựa hẳn vào ngôi nhà tội nghiệp. Cái cây vẫn tiếp tục lớn, còn ngôi nhà vẫn oằn mình chờ đợi cái kết sau cùng của nó. Cá nhân tôi thì mong cái ngày ngôi nhà sập xuống sẽ không bao giờ xảy đến, vì bên trong nó là cả một thế giới mà tôi vẫn đang cố gắng tìm hiểu.
Bên trong nhà, không khí khá ẩm. Mùi mốc xộc lên từ những góc nhà đọng nước. Đây đó, khắp trong ngôi nhà này, những cuốn sách đang dần mục rữa. Vào mùa mưa, khi cơn lũ làm tôi không thể ở yên ổn trong ngôi nhà trên sườn núi, thì thư viện này chính là mái nhà yên ấm của tôi. Cũng trong thời gian ấy, bị giam lỏng trong ngôi nhà to lớn, bên ngoài là cơn mưa xối xả, dòng sông nước xiết chỉ chực cuốn trôi tất cả mọi thứ vô tình rơi xuống nó, tôi đã đọc kha khá sách trong thư viện này. Cũng chính trong thời gian này, tôi bắt tay vào di chuyển sách từ những kho đã bị nước làm ẩm đến một nơi theo tôi nghĩ là khô ráo hơn – chính là gian phòng trên mái nhà, cho đến khi cái cây đổ phá tan công sức của tôi, hoàn toàn.
Bây giờ đang là mùa khô – theo nghĩa là nhiều tuần liền không có mưa, chứ không phải kiểu thời tiết thường được mô tả trong sách. Nhiệt độ ở đây hầu như không thay đổi, chỉ đều đặn vận hành từ sáng sang tối, từ đêm sang ngày. Giống như tôi và hành tinh đang giam giữ tôi chỉ đơn thuần đi trên một cái vòng tròn hoàn hảo mà tâm của nó chính là mặt trời. Tôi cũng chưa bao giờ thực sự nhìn thấy mặt trời, nó chỉ là một vầng sáng mờ ảo màu vàng chanh trên nền trời dày đặc mây mù màu xam xám. Cũng tương tự như mặt trời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mặt trăng và những vì sao. Mặt trăng, đúng hơn là những gì còn lại của nó trên bầu trời, chỉ là một dải sáng bạc lấp lánh. Nhưng dường như đó cũng là câu chuyện của hàng chục năm về trước. Người ta đã cho nổ tung mặt trăng để ngăn chặn một hiểm hoạ nào đó. Nhưng dù gì đi nữa, với tôi bây giờ, câu chuyện lịch sử ấy cũng không còn quá quan trọng.
Trong ngày đầu tiên ở thư viện, tôi tìm được rất nhiều sách viết về những cây thông. Phần lớn chúng chỉ ra rằng loại cây này mọc nhiều ở một vùng gọi là “ôn đới”. Tôi đào sâu hơn trong các tư liệu để tìm hiểu về loài sâu lông lá sống kí sinh trên thân loại cây ấy. Một loài gây hại. Cách phòng trừ hiệu quả nhất là phun thuốc. Tôi không có thuốc.
Sau cây thông và loài sâu gây hại, cụm từ “ôn đới” làm tôi bị ấn tượng. Tôi bắt đầu đọc về các đới khí hậu. Tiếc thay tôi sẽ mãi mãi không còn cơ hội để chứng kiến chúng: những ngày mùa xuân mưa bụi ấm áp, những ngày mùa hè nóng nực, mùa thu mát mẻ và mùa đông giá buốt. Chúng tôi – tôi và tinh cầu này đã đánh mất điều ấy mãi mãi.
Sau hai ngày ở thư viện với những chồng sách về địa lý tự nhiên, tôi cuối cùng cũng nhớ ra những ghi chép của Zerphy. Sự nhớ ra ấy kéo theo một cơn tò mò kinh khủng. Tôi tưởng tượng ra cái kén, màu trắng ngà, chờ đón tôi giữa khoảng rừng màu xanh thẫm. Cái kén có lẽ sẽ là câu trả lời cho mọi thắc mắc của tôi về Z.

Đêm hôm ấy, bên ngọn lửa nhóm vội từ những thứ cây cành lấy được trong khuôn viên thư viện, tôi nhấm nháp nốt những quả đào cuối cùng còn lại trong túi, tay lần giở từng trang giấy nhăn nhúm với nét bút mảnh những rõ nét của người tên Zerphy. 

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

"A" - Sắc xanh tĩnh lặng (1)


1
Tôi guồng chân chạy. Phổi cạn sạch dưỡng khí. Từng nang phổi khô cháy kêu gào ôxi. Nhưng tôi vẫn chạy. Mải miết. Dường như với mỗi giây chậm trễ, tôi đang tiến gần hơn đến cái chết.
CHẾT.
Một âm thanh thật bình yên. Một động từ giải phóng tất cả những đớn đau và sợ hãi mà tôi phải chịu đựng. Không thể tin được, không lâu trước đây, tôi còn khao khát cuộc sống NÀY – cái cuộc sống mà mỗi giây qua đi đều là một lời tạ ơn cuộc sống.
Phía sau lưng tôi, thứ sinh vật kinh khủng lai giữa cá sấu và chó sói đang đuổi đến rất gần. Con quái thú có hàm răng khoẻ với những chiếc răng màu ngà dài và nhọn hoắt của loài sói, nhưng làn da lại thô nhám và ẩm ướt như thể loài cá sấu lưỡng cư. Những đặc điểm của hai loài khác biệt cùng tập hợp trên một cơ thể khiến con vật có một dáng vẻ gớm ghiếc. Tuy nhiên, ơn trời, khác với cái hình dạng vẫn mang dấu vết của loài cá sấu, con vật không hề biết bơi.
Đôi tai ù đặc của tôi không còn nghe thấy gì ngoài tiếng đập gấp gáp của quả tim trong lồng ngực. Tuy nhiên đôi mắt đã gần mờ của tôi vẫn nhìn thấy dải màu xám trắng vắt qua những búi cỏ cao. Một cú nhảy gấp gáp. Tôi lăn tròn trên chiếc bè tự chế, kết thúc một cách tuyệt đẹp cuộc đua nước rút của mình với sinh vật kia. Trên bờ sông lút cỏ, con vật ném vào tôi cái nhìn thù địch.
Nhưng giờ đây, khi bản thân đang dập dềnh giữa dòng nước, tôi không có lí do gì để sợ nó nữa. Cố gắng điều hoà cơ thể bằng những nhịp thở sâu, tôi thò tay vào chiếc túi đeo bên hông – một chiếc túi “xịn” so với tấm ga trải giường trước kia. Trong túi, vật hình hộp vẫn an toàn tuyệt đối. Tôi đã làm một cuộc hành trình dài đầy hiểm nguy chỉ vì nó, và thật vô nghĩa nếu nó bị huỷ hoại.
Dòng nước cứ lững lờ trôi, đẩy chiếc bè xuôi về hạ lưu. Qua vài khúc ngoặt nữa, con sông sẽ đi qua một cái eo nhỏ ăn sâu vào vách đá. Dòng chảy sẽ đánh dạt chiếc bè vào đó. Và chuyến thuỷ trình của tôi cũng đi đến hồi kết. Nhưng vào lúc này đây, tôi có quyền nghỉ ngơi chút đỉnh.
Bầu trời trên đầu tôi cao vòi vọi, màu xám xanh tĩnh lặng, thứ tĩnh lặng hoà trộn hoàn hảo với màu xanh lục bủa vây mặt đất. Đây là thế giới mà tôi bị bỏ lại, xanh tươi, đầy sức sống, nhưng không còn chào đón giống loài chúng tôi – những kẻ đã từng là niềm kiêu hãnh của hành tinh này.
Tôi về đến nơi trú ẩn an toàn khi trời vừa sập tối. “Nơi trú ẩn an toàn” – giống như tên gọi của nó, là một tàn tích còn sót lại sau Biến cố lớn – sự kiện đã khiến toàn bộ cư dân phải di cư khỏi hành tinh này. “Toàn bộ”, tức là những người còn sống sót và khoẻ mạnh. Phần còn lại, tôi không muốn nhắc đến họ, đôi lúc xuất hiện dọc hành trình của tôi, trong hình dạng những bộ xương bất động, hoặc tệ hơn thế.
Tôi kéo cánh cửa che kín lối ra vào, lần mò trong bóng tối trước khi  nhóm được lửa. Sau khi rời khỏi Căn phòng chắp vá, đây là mái ấm mới của tôi. Chỉ khác là giờ đây tôi hoàn toàn cô độc. Chiếc bồn tắm và ánh điện vàng ủng trong căn phòng ẩm thấp giờ hoá ra là thứ tiện nghi xa xỉ mà tôi vĩnh viễn đã đánh mất, cũng như đã đánh mất người bạn đồng hành của mình. Tuy nhiên, suy nghĩ về việc một ngày nào đó sẽ tìm lại được Z khiến tôi cảm thấy được an ủi rất nhiều.
Sau khi ra khỏi Căn phòng chắp vá, điều tuyệt diệu nhất tôi từng có được, chính là hi vọng được gặp lại Z.
Trong vòng hai tuần đầu từ khi ra khỏi nơi ở cũ, cơ thể, và cả tâm hồn tôi dường như rơi vào một trạng thái không cảm xúc. Mọi giác quan và xúc cảm của tôi đều tê liệt bởi nỗi cô đơn, bởi ham muốn được trò chuyện… và trên hết, là nỗi tuyệt vọng khi nghĩ rằng Z đã chết. Tôi tìm thấy túi đồ và những món vũ khí của Z rơi rớt không xa cách lối vào căn hầm kia. Tất cả đều nguyên vẹn, không có dấu hiện của một cuộc chiến khốc liệt, mà phần thua thuộc về chủ nhân những món đồ. Chúng nằm ở đó, được sắp xếp một cách ngay ngắn, bên cạnh đôi ủng mơ ước của tôi. Z sẽ đi được bao xa nếu bỏ lại những món đồ ấy, và trên hết, là đôi ủng kiểu nhà binh của cô?
Tôi đã đi tìm Z cho tới hết mùa đông năm ấy, vẫn ở trong Căn phòng chắp vá, như níu kéo một thứ hi vọng mong manh về sự trở lại không tưởng của chị. Cho tới mùa xuân sang năm, khi bên ngoài căn hầm, khung cảnh thay đổi đến chóng mặt, từ một màu xám tro vô sắc trở thành vô vàn sắc xanh rực rỡ. Nhưng cũng giống như mùa đông dài trước đó, không có một âm thanh nào lọt được đến đôi tai tôi. Thế giới mới là một tấm thảm xanh lục tĩnh lặng.
Hi vọng đến với tôi vào một ngày, khi lẫn lộn trong những ghi chép rất dài trong cuốn sổ nhật kí – có lẽ cuốn sổ được Z tìm thấy đâu đó giữa những cuộc phiêu lưu, tôi tìm thấy những dòng chữ nói về một thứ ánh sáng xanh rọi xuống từ trên trời, hút lấy những sinh vật sống bên trong nó. Vài trang bị xé bỏ. Và sau đó là nét chữ to cộ thân quen của Z. Nét chữ như… cố tình để tôi đọc được.
Phần Z viết không nhiều, có lẽ vì chị buộc phải ghi chép lại chúng khi nhận thấy nguy hiểm đã gần kề.
Một vài lời chỉ dẫn ngắn gọn, dẫn tôi đến một nơi lưu trữ, một thứ gì đó gọi là “Thư viện” nằm vắt qua một con sông xa về phía nam của căn hầm. Phần còn lại, Z nói về việc tia sáng xanh lại xuất hiện, và chị dường như đã bất lực trong việc chạy trốn nó…
Tôi đã tuân theo mọi chỉ dẫn của Z. Thời gian cứ thấm thoắt trôi đi, và giờ đây, tôi đã đi vừa đôi ủng kiểu nhà binh mà chị để lại. Tôi đã đi vừa đôi giầy mà tôi khao khát năm xưa.
Thứ tôi mang về ngày hôm nay từ thư viện ấy, là một chiếc hộp gỗ. Bên trong hộp là tập tài liệu chép tay của một người có tên Zerphy1123 – cái tên mà khi đọc lên, nó gợi cho tôi cảm giác thân thuộc, như thể đang phát âm cái tên của Z.
Tháo giày, chui vào trong chăn, nhấm nháp vài thứ quả hái lượm được trong vườn – khu vườn chính tay tôi gây dựng một năm về trước, tôi bắt đầu đọc những tài liệu kia.


                                          Photo credit to Laura Makabresku (https://www.facebook.com/makabresku.fairy.tales)


2

“Tôi là Zerphy1123, người chép sử. Tôi từ chối quyền di cư lên hành tinh Celestia và nhận nhiệm vụ ghi chép lại sự hồi phục của Tinh Cầu sau sự kiện Biến cố lớn đã làm biến đổi phần lớn hành tinh này”
.
.
.
.
Tinh Cầu, ngày thứ… sau Biến cố lớn.
Tôi tìm thấy một cái kén trôi dạt trên biển sông. Cái kén làm bằng kim loại và nhựa dẻo, đồng nghĩa với việc nó là sản phẩm nhân tạo. Không có thông tin tham khảo để xác định nguồn gốc cái kén. Tuy nhiên ban đầu nhận định, bên trong cái kén là một sinh vật sống. Tôi không phải người duy nhất tồn tại trên hành tinh này…”
Một cơn gió lạnh thổi qua khe hở giữa những đoạn dây leo ken dày trên cái trần nhà nát banh và mất mái, làm ngọn lửa nhóm giữa những phiến đá quây tròn nhảy múa dữ dội. Tôi bỏ rơi tập tài liệu, nín thờ, nắm lấy chiếc rìu dựng cạnh bên. Sự cô độc đồng nghĩa với cảnh giác cao độ trước bất kể động tĩnh nào, dù là nhỏ nhất. Tôi đã mạnh lên nhiều, nhưng không vì thế mà tôi an toàn.
Thời gian trôi đi. Không có dấu hiệu của nguy hiểm. Những thớ cơ căng cứng dần thả lỏng. Cơ thể tôi quay về trạng thái nghỉ. Lại nằm vật ra ghế - chiếc ghế dài đã bục chỉ, thủng lỗ chỗ, lòi cả lò xo ra ngoài, nhưng không vì thế mà bớt tiện nghi. Tôi cầm lấy tập tài liệu, đọc tiếp vài trang trước khi chìm vào giấc ngủ.
Đêm ấy, tôi có một giấc mơ kì lạ, về một khoảng không vô tận màu xanh đen, lấp lánh những hạt ánh sáng nhiều màu. Tôi đang nằm trong một cái kén, trôi dạt. Ở khoé mắt tôi, hình ảnh về một công trình đồ sộ hình trứng đang mờ nhạt dần… Tôi biết mình bị lưu đày, vĩnh viễn.
Bình minh đánh thức tôi bằng những tia nắng màu vàng chanh xuyên qua những kẽ hở trên trần nhà, xuyên qua khoảng không với những hạt bụi trắng lơ lửng, cuối cùng rơi xuống mí mắt tôi. Tôi khẽ cựa quậy. Chiếc ghế tuy là một món đồ tiện dụng, nhưng không phải vì thế nó không khiến những đầu ngón chân của tôi tê dại vào mỗi buổi sáng sớm. Nằm im trên giường cho tới khi những đầu ngón chân có lại cảm giác, tôi sửa soạn cho một cuộc hành trình mới.
Vẫn là những món đồ đã quá quen thuộc: chiếc rìu với phần lưỡi đã sứt mẻ đôi chỗ, túi đeo qua vai, những thứ vũ khí Z bỏ lại, chiếc khăn xanh làm từ ga trải giường – vật hoá ra vô cùng hữu dụng trong việc nguỵ trang giữa rừng, và đôi giày kiểu nhà binh của Z.
Công việc hôm nay không có gì nhiều. Đi lên khu rừng phía bắc. Một cuộc tản bộ và tìm kiếm những manh mối vô hình. Tôi cần những ví dụ trực quan cho những điều mình đã đọc được.
Theo những ghi chép của người có tên Zerphy, chiếc kén đã rơi xuống khu rừng ấy.
Vung tay kéo mạnh cánh cửa kim loại – cánh cửa mà giờ chỉ dùng một tay tôi cũng có thể đóng lại, tôi bước vào khu vườn của mình.
“Vườn” là một danh từ dùng để chỉ nơi mà con người trồng, chăm sóc và thu hoạch rau quả hay hoa màu. Cuốn sách của tôi nói như thế. Tôi đã mang về khu vườn của mình một vài bụi cây có màu sặc sỡ, sau khi gần như chắc chắn rằng chúng không nguy hiểm; một vài cây hoa, và những cái cây lớn hơn cho thứ quả ăn được. Một trong số chúng khá giống với hình vẽ quả đào trong sách. Vậy là tôi đã có khu vườn và một cây đào.
Tôi hái một vài trái đào trên cây, chúng chín mọng, thơm phức với lớp vỏ mịn màu hồng hồng xinh xắn. Bỏ chùm quả vào trong túi, tôi đã sẵn sàng để lên đường.
Giữa nơi tôi ở và khu rừng là một cánh đồng dương xỉ rộng lớn. Những cây dương xỉ cao ngang tầm thân tôi, với cành lá toả rộng, loà xoà. Giữa những bụi dương xỉ ấy là những chiếc lá non cuộn tròn với lớp lông mịn mọng nước. Hoàn toàn có thể ăn những chiếc lá non ấy thay cho uống nước, trừ việc mùi vị của chúng thật tệ hại. Tôi không nghĩ mình cần dùng đến cách tiếp nước ấy khi mà tôi có cả một biển sông ở bên cạnh. Cũng đã vài lần tôi bắt được cá từ dưới biển sông. Nhưng đó là chuyện hi hữu và dường như không cần thiết, bởi cơ thể tôi vẫn vận hành tốt khi nạp năng lượng từ những thứ quả trong vườn.
Sau khi băng qua cánh đồng dương xỉ vẫn còn ướt đẫm sương, tôi tiến vào khu rừng đã hiện ra trước mắt

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

"Z" (3)



11
Bỏ qua tất cả những công việc thường ngày, tôi leo lên giường Z, tìm kiếm vị trí của lỗ hổng. Bàn tay tôi vội vã tháo bỏ, xé rách những miếng vá Z vừa dán lên. Và cuối cùng tôi đã tìm lại được nó, lỗ hổng của tôi.
Vẫn là thứ ánh sáng dịu dàng mời gọi ấy. Tôi để ánh sáng ấy chạy dọc theo cánh tay, nhìn những sợi lông măng trong suốt hiện hìtnh. Một lúc khác, tôi lại nằm ngửa, để vũng ánh sáng hình elip đọng lại giữa trán, thích thú nhấm nháp cái cảm giác buồn buồn nhức nhức ấy.
Trò chơi của tôi vẫn tiếp tục trong bí mật, cho tới một ngày kia, tôi quyết định mở rộng cái lỗ. Đất bụi rơi đầy trên đệm, trên váy, trên tay và tóc tôi. Nhưng trong nhiềm hưng phấn vì thứ sắp được khám phá, trộn lẫn với nỗi lo sợ bị phát hiện, chút bẩn thỉu ấy chẳng đáng gì. Theo bàn tay tôi, quầng sáng dần mở rộng, cho đến khi tôi dừng lại vì mệt mỏi, thì nó đã trở thành một lỗ thủng cỡ bàn tay.
Bên ngoài cái lỗ là một khoảng không gian màu xanh ngắt. Tôi những muốn mở rộng cái lỗ ra thêm, thêm nữa, nhưng tiếng động ngoài hành lang đã báo hiệu cho tôi cuộc thám hiểm đã đi đến điểm dừng. Tôi vội vã dùng một mảnh kim loại lớn che cái lỗ của mình, phủi sạch bụi đất, và như thường lệ, chạy tới trước cánh cửa, nơi Z sẽ xuất hiện sau cánh cửa nặng trịch.
Tôi giữ bí mật với Z về quy mô của cái hố trong suốt cả bữa ăn, trong lúc tắm và cả khi chúng tôi cuộn tròn bên nhau rất lâu sau đó. Tôi chìm vào giấc ngủ với giấc mơ về lòng bàn tay màu xanh trong vắt.
Cho đến nửa đêm, và những tiếng động lạ bắt đầu.



12
Ban đầu nó là những tiếng động như thể bát đĩa bị đập vỡ, vọng lại từ rất xa theo từng hồi chát chúa. Âm thanh lớn dần, kéo tôi và Z khỏi giấc ngủ. Chúng tôi nín thở theo dõi. Tôi thấy dường như vòng tay Z che lấy tôi chặt hơn. Tôi cảm thấy nỗi sợ hãi từ tôi đang truyền sang Z.
Rồi sau một tiếng nổ chát chúa sau cùng, nước bắt đầu trút xuống từ trên trần nhà. Tôi hét lên. Nước ứa ra từ những khe nứt trên trần, rơi xuống thấm ướt chiếc chăn chúng tôi đang đắp. Và rồi, tấm kim loại che chắn thảm hại của tôi rơi xuống.
Nước vẫn đổ qua cái lỗ. Mặc cho Z giữ lại, tôi nhoài người về phía cái lỗ, để thứ nước ấy rơi ướt áo quần. Một luồng không khí thổi qua mặt tôi, mát lạnh và ướt đẫm. Thứ không khí tuy đầy hơi nước nhưng nhẹ tênh, trôi vào hai lá phổi tôi, bỗng chốc khiến tôi quên đi thứ không khí nặng nề mà ngày ngày mình vẫn hít thở. Đứng trên hai chân, tôi vươn tay, chới với, tìm cách bắt lấy luồng không khí ấy.
Ra đây chính là thứ ở bên ngoài, là thứ mà ngày ngày Z vẫn bỏ tôi để đến với. Tại sao tôi phải ở trong căn phòng này, chết dí với khoảng không tù túng, trong khi bên ngoài, mọi thứ đều thật… mới mẻ.
Một mảng trần nhỏ sụp xuống, kéo tôi ngã dúi dụi. Z, người mà tôi dường như đã quên mất sự tồn tại, nhào đến, chỉ vừa kịp túm lấy tôi trước khi tôi văng ra khỏi chiếc giường tầng. Nhưng tôi còn quan tâm gì chứ. Cơ thể tôi chỉ còn biết hướng đến khoảng không trước mắt. Tôi cần phải thoát ra, nếu tôi đủ cố gắng…
CHÁT! – Tôi thấy má mình nóng ran. Rồi khoảnh khắc tiếp theo, tôi thấy mình ngã khỏi chiếc giường. Z đã đẩy tôi xuống. Tôi ngã. Cả cơ thể nặng nề rơi xuống nền đất cứng. Đau đớn và giận giữ. Tôi bắt đầu gào thét, nguyền rủa Z bằng bất cứ từ ngữ nào mới thành hình.  Nhưng dường như, Z chẳng còn quan tâm đến tôi nữa.






 00
Tôi co ro trong góc phòng, từ chối mọi sự tiếp xúc với Z. Sợ hãi, rối trí, giận dữ, và tò mò, chuỗi cảm xúc nối nhau dâng trào trong lòng tôi. Và tất cả chúng đều nhắm vào Z. Tôi ước gì mình có thể quên Z đi, để ít ra tôi không phải cảm thấy bất kì một điều gì khác.
Cánh cửa sắt đóng vào rồi lại mở ra. Một ngày nữa đã lại trôi qua. Không còn lỗ thủng, không còn ánh sáng dịu dàng đến bên tôi. Ánh đèn từ chiếc bóng tròn trở nên chói gắt đến không thể chấp nhận nổi. Cũng giống như Z.
Z không nói gì với tôi, ra đi sớm hơn, trở về muộn hơn, đống đồ hộp ở trên bàn mỗi lúc một đầy thêm. Nhưng giữa chúng tôi, thì dường như đã có cả một đại dương ngăn cách. Đại dương. Hình ảnh trên lon cá quay lại trong đầu tôi. Đại dương cũng là một thứ thuộc về thế giới bên ngoài, một thế giới mà tôi bị ngăn cấm tiếp cận. Cuộc đời tôi sẽ còn lại gì, ngoài những chuỗi ngày chết dí trong căn phòng này?
Cơ thể tôi kiệt quệ, trái tim tôi rệu rã. Nhưng trước khi mí mắt mệt mỏi của tôi kịp khép lại, thì một tiếng rống ghê rợn đã làm tôi đông cứng.
Nó không giống như tiếng đập bên ngoài cửa từng làm tôi chết khiếp, cũng không phải tiếng bát đĩa bị đập vỡ trước kia, đó là một chuỗi những âm thanh đào bới. Một miếng sắt rơi từ trên trần nhà xuống đã thay lời cảnh báo cuối cùng. Chiếc giường tầng vững chãi đổ nghiêng sang một bên. Trần nhà sụp xuống. Ánh sáng nhờ nhờ từ bên ngoài ùa vào. Và trong khi tôi sợ chết khiếp, ép sát mình vào góc tường, một bàn tay khổng lồ đã lách qua lỗ thủng chui vào trong phòng.
Bàn tay khổng lồ với năm ngón xương xẩu, khô đét, cháy nham nhở lộ cả xương trắng vơ vét trong căn phòng, xô đổ và nghiền nát mọi đồ đạc nó chạm tới. Những móng tay dài cáu bẩn xới tung nền đất. Cùng với nó là những âm thanh rên rỉ lúc gần lúc xa vọng đến từ bên ngoài.
Tôi gào đến khản cổ. Những gì xảy ra trước mắt đã vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của tôi. Hơn bao giờ hết, tôi mong ước được quay lại sự an bình nhàm chán của vài giờ trước kia, mà trên hết, tôi mong có Z bên cạnh. Quáng quàng, tôi chỉ kịp bò tránh những đầu móng tay đang lao đến từ tứ phía, chộp lấy một vật gì đó không rõ, và dùng nó đập hết sức vào kẻ xâm lược.
Cánh tay tôi đau rần vì xung động. Những ngón tay có vẻ không hề bị tổn thương bởi sự tấn công của tôi, nhưng sự tấn công thì đã yếu đi rất nhiều. Bàn tay ngừng bới móc mọi ngóc ngách trong căn phòng. Rồi như thể điều kì diệu đã xảy ra, nó biến mất. Chỉ còn căn phòng ngổn ngang và lỗ hổng to tướng trên trần nhà.
Tôi mệt mỏi ngồi vật xuống cạnh chiếc giường đổ gãy, tựa lưng vào một chân cột chỏng chơ, bàn tay vẫn nắm chặt món vũ khí, thứ mà giờ đây tôi nhận ra là một chiếc rìu sứt mẻ. Thở không ra hơi, tôi ngước nhìn lên bầu trời.
Tôi vừa được viếng thăm bởi một thứ ở bên ngoài kia, thứ mà tôi khao khát được chạm đến. Nực cười thay. Bầu trời vẫn xanh và cao như thế, nhưng tại sao tôi không còn cảm thấy chút gì của niềm khát khao khám phá. Những hạt mưa đầu tiên bắt đầu rơi.
Dưới chân tôi, những món đồ trong kho báu bí mật cất giấu dưới gối rơi vãi tung tóe. Trong số đó có một mảnh gương đã mờ đục. Tôi nhặt mảnh gương, soi bóng mình bên trong đó, một khuôn mặt vẫn chưa hết vẻ hãi hùng.
Mất một lúc lâu, tôi mới tìm được, lẫn lộn giữa những mảnh gốm sứ nát, bông hoa cúc trắng đã giập cánh. Z đã mang bông hoa ấy về cho tôi vào đêm trước.
Đêm hôm qua. Những từ ngữ thốt ra thật dễ dàng, mà sao mãi mãi không thể tìm lại được. Ngày hôm qua yên bình, Z trở về sớm, tự tay đổ nước vào bồn – việc  bấy lâu nay vẫn do tôi đảm nhận. Rồi Z bế bổng tôi lên, thả tôi vào đó. Chị bắt đầu  kì cọ tôi, như cái cách người ta lau rửa một món đồ gia bảo. Z thay cho tôi một bộ rối của tôi, điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Z tết tóc tôi thành hai bím dài màu bạc. Trước những cử chỉ ấy, tôi chỉ im lặng, giả như mình là một con búp bê to lớn.
Tôi nghe thấy tiếng thở dài khẽ khàng của Z. Chị bỏ mặc tôi ở đó, quay lại chỗ ngủ bất tiện của mình trên tầng hai của khung giường.
Thứ nước chảy từ trên trời xuống em đã từng thấy ấy, gọi là “mưa”. – Khi nhắc tới từ “mưa”, giọng Z đột ngột trùng xuống, như thể vừa nuốt một khối nước mắt chỉ chực trào ra. Tôi không nhắc đến chúng, cũng như không muốn em nhắc đến chúng, là bởi mỗi khi những cái tên thân thuộc ấy được gọi ra, tôi lại cảm thấy mình mất mát quá nhiều. Chúng tôi là những người cuối cùng, bị bỏ lại, bị ruồng rẫy. Chúng tôi chẳng còn lại gì ngoài những thương tổn và bàng hoàng về một thế giới đã mất mà bản thân tồn tại như những nhân chứng cuối cùng.
Tôi không đáp lại.
Đôi khi, tôi ước gì mình được sống cuộc đời của em. Khi mà tất cả mọi thứ đều là sự khởi đầu…
Và đó là tất cả những gì Z đã nói với tôi, trước khi khoác túi lên vai ra đi vào ngày hôm sau.
Tôi ngồi vắt vẻo trên cái khung giường siêu vẹo, đọc ngấu nghiến một cuốn sách kì lạ chưa từng xuất hiện trên giá sách của Z trước đây. Tôi tìm thấy trong cuốn sách ấy mây trôi, gió thổi, mưa rơi và những cái cây đang lớn. Khi cuốn sách khép lại, tôi đã có thể gọi tên những mảnh vụn sáng yếu ớt cuối cùng trên bầu trời là Mặt trăng.
Thế giới đã mất của Z thật mĩ lệ. Tôi bỗng cảm thấy mình vô nghĩa trước sự ra đi của thế giới ấy. Tôi thấy bản thân mình vô nghĩa trước Z. Nỗi lo lắng bồn chồn bắt đầu xâm chiếm trái tim tôi.
Rồi cho tới một ngày kia, tôi biết rằng Z sẽ không quay trở lại. Bông cúc cài  trên tóc tôi đã héo khô, nước mắt tôi đã cạn. Và tôi quyết định mình sẽ ra đi. Tôi sẽ bước chân vào thế giới ấy, thế giới của tôi. Thế giới hồi sinh trên tro tàn những gì đã từng là mọi thứ của Z. Tôi sẽ ra đi để nhìn ngắm thế giới ấy, và cả tìm lại Z của tôi.
Một kế hoạch được vạch ra chóng vánh. Tôi nhặt nhạnh tất cả những món đồ còn sử dụng được, nhét tất cả đồ hộp vào trong vỏ gối, biến nó thành một chiếc túi đeo sau lưng. Tôi mặc ra ngoài chiếc váy đỏ của Z chiếc áo trùm cũ của cô. Chiếc áo tuy cũ sờn nhưng dày và ấm áp, che kín từ đầu tới đầu gối tôi. Chỉ cần thế là đủ. Tôi quyết định sẽ mang theo tấm ga giường màu xanh lá cây mà Z vẫn nằm, cắt nó thành một chiếc khăn dài quấn quanh cổ, phần còn lại nhét chung cùng đồ đạc vào chiếc vỏ gối đeo sau lưng.
Tôi tìm được cùng chiếc áo trùm cũ là đôi giày bốt của Z. Dựa vào việc nó vừa khít với chân tôi, thì có vẻ Z phải bỏ lại nó vì chị đã lớn lên rất nhiều kể từ khi sở hữu chúng.
Vậy là tôi đã có ngày được xỏ chân vào đôi giày của Z. Suy nghĩ ấy tuy nhiều phần cay đắng, nhưng cũng an ủi được tôi phần nào.
Cầm chắc cây rìu cũ mẻ trên tay, tôi đã sẵn sàng lên đường.
Cánh cửa nặng trịch dường như đã đốt cháy của tôi kha khá năng lượng và ý chí. Nhưng rồi tôi cũng mở được nó, nhờ một cái đòn bẩy thông thường.
Khoảng không gian hình chữ nhật đen kịt hiện ra trước mắt tôi. Vậy là tôi đã tiến sát đến khoảnh khắc mong đợi bấy lâu. Khoảnh khắc khi tôi thoát ra khỏi Căn phòng chắp vá.
Chỉ tiếc là Z không còn ở đây bên tôi.
Cố gạt đi cảm giác nhớ thương tiếc nuối ngổn ngang trong lòng, tôi cố gắng bước đi. Từ những bước nhỏ hoang mang, tới những sải chân đầy háo hức.
Tôi sẽ đi về phương Bắc, bỏ lại sau lưng căn phòng với những kỉ niệm cũ xưa.
Những cơn gió đã thổi ở rất gần, lối ra của đoạn hành lang đã ở trước mắt.
Ánh sáng ùa tới bên tôi.

HẾT.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

"Z" (2)



Cơn đói đánh thức tôi bằng một cơn sôi bụng khó chịu. Bàn tay tôi quờ quạng trong bóng tối. Tôi bắt đầu la gọi Z. Nhưng bóng tối dường như nuốt chửng mọi âm thanh tôi cố gắng phát ra. Tôi cố gắng vùng vẫy. Rồi ngay khi tôi quyết định bỏ cuộc, tôi nghe thấy tiếng đáp lại của Z.
Đôi tai tôi nhận ra âm điệu giọng nói của Z, nhưng trí óc tôi không phân tách được nội dung câu nói ấy. Và tôi dần dần tỉnh lại.
Ánh nến leo lét vẽ nên một quầng sáng ấm áp trên chiếc bàn ăn xiêu vẹo. Z ở giữa quầng sáng ấy, chăm chú nhìn tôi.
Z ơi, em... – Tôi nói, cảm thấy mình dường như hụt hơi. Âm tiết ngắn ngủi giống như vừa vạch miệng tôi chui ra ngoài, có lẽ chúng sợ nếu không thoát ra bây giờ, thì mãi mãi chúng không thể vượt thoát. Nhưng ở ngay giữa cuộc hành trình, chúng bỏ cuộc. Câu nói trở thành một lời ú ớ vô nghĩa.
Z nhìn tôi, thoáng bối rối rồi nhanh chóng đáp lại bằng một nụ cười. Z kéo ghế toan đứng dậy, nhưng rồi mất đà ngồi phịch xuống.
Chỉ đến lúc này, tôi mới nhận ra Z đã hoàn toàn kiệt sức. Trên mặt bàn là những dải băng lấm tấm máu, ngay dưới chân bàn, trong vùng sáng yếu ớt mà cây nến có thể chiếu tới, cái gì đó giống như máu đọng lại thành một vũng màu đen đặc.
Hoảng hốt, tôi chạy khỏi giường, luốn cuống lao về phía Z. Làn da nâu của cô nhễ nhại mồ hôi và bùn đất. Trên cánh tay Z, những vết cắt sâu ứa máu đang há miệng nham nhở. Phía dưới gầm bàn, đôi chân Z cũng chịu chung số phận. Những thứ vũ khí thô sơ nằm lăn lóc ở một góc khác của căn phòng, gãy vụn. Như thể cảm nhận được sự kinh hoàng của tôi, Z ngẩng đầu lên cười yếu ớt, khuôn mặt đã ngả sang màu tái xám, đôi mắt sáng long lanh giờ mờ đục. Không sao, không sao đâu. Đến sáng mai, mọi thứ sẽ trở về như cũ. Giờ ta đi tắm thôi… - Trong một nỗ lực sau cùng, Z cố vịn vào tôi để đứng lên. Nhưng lần này cả cơ thể Z đổ ập xuống dưới chân tôi. Tôi nhìn Z, rồi nhìn hai bản tay mình. Chúng đã bị nhuộm màu tím ngắt.
Tôi bắt đầu khóc. Nước mắt chảy ra như thể đôi mắt tôi đã vĩnh viễn trở thành hai dòng thác. Tôi cố gắng kéo Z về phía chiếc giường, nhưng bất lực. Vậy là tôi đành kéo tấm chăn từ trên giường xuống, bọc lấy Z, rồi cứ thế, tôi ôm chị, lắng nghe nhịp thở đứt quãng là thứ hi vọng duy nhất còn lại bên tôi lúc này.



7
Ánh sáng chói gắt và đột ngột làm tôi tỉnh giấc. Chúng tôi đã ôm nhau ngủ trên sàn nhà một lúc lâu. Nhưng là bao lâu? Tôi đánh mắt tìm lời giải đáp từ chiếc đồng hồ lên dây cót. Chiếc đồng hồ câm lặng ở con số 12 giờ đúng. Chẳng thể biết nó đã hết vòng cót từ lúc nào. Giờ thì thời gian cũng rời bỏ chúng tôi.
Chúng tôi!
Tôi vội vã giở chăn, áp tai vào ngực Z. Và tôi lại khóc, vỡ òa vì niềm vui. Nhịp thở của Z đều đặn trở lại, những vết thương cũng đã lành trên da thịt. Mí mắt Z khẽ động đậy, rồi mở ra. Tròng mắt tím co lại vì ánh sáng gắt. Z đưa một cánh tay lên che mắt. Còn tôi thì bật cười. Âm thanh của tiếng cười dường như là thứ vừa được tìm lại. Tôi cứ nằm như vậy, nhìn Z, và cười.
Bồn tắm nhanh chóng được đổ đầy nước. Tôi và Z lại cùng co ro với nhau trong cái khoảng chật hẹp ấy. Vậy mà mới vài phút trước, tôi còn sợ hãi rằng tất cả những khung cảnh này đã vuột khỏi tay mình vĩnh viễn. Giờ đây Z đang ở sát bên tôi, làn da trần của chúng tôi chạm vào nhau, ấm áp. Tôi tựa đầu vào vai Z, nhẹ nhàng rửa sạch từng khoảng nhỏ trên cơ thể chị, thậm chí còn đặt những nụ hôn của mình lên chúng. Tôi yêu cơ thể Z.
            Những ngón tay của Z trượt trên mái tóc tôi, cổ tôi, vai tôi, cuối cùng dừng lại trên khuôn mặt tôi. Tim của tôi như muốn bứt tung khỏi lồng ngực. Z nghiêng đầu. Cái đầu xinh xắn với mái tóc ngắn màu đen huyền cắt ngắn sát da đầu bên trên chiếc cổ cao đẹp đẽ. Đôi mắt Z nhắm lại, hàng mi không dài, nhưng uốn cong hoàn hảo. Sống mũi dài lấm tấm những giọt mồ hôi. Đôi môi Z không dày, không mỏng, màu cam hồng. Đôi môi ấy chạm vào đôi môi rung rẩy của tôi. Môi Z khô ráp, trái ngược với cảm giác mềm mịn mà làn da chị mang lại. Vô thức, hai tay tôi vòng qua cổ Z, ghì chặt.
           Nước trong bồn không còn ấm, nhưng cũng chưa quá lạnh, dập dềnh, mơn man vỗ về như đồng lõa với cơ thể của chúng tôi.
           Em yêu Z. – Tôi lắp bắp. Ngôn ngữ cuối cùng cũng làm trọn vai trò thông tin của nó.
           Tôi thấy Z ghì lấy tôi chặt hơn. Đau. Nhưng tôi hài lòng vì cảm giác ấy.





8
     Chúng tôi thức dậy, vào buổi sáng thứ bao nhiêu tôi cũng không còn đếm nữa. Những hàng rào trên bức tường của tôi đã dừng lại ở con số 99 thanh dọc. Khái niệm thời gian duy nhất của chúng tôi hiện giờ chỉ còn là ngày và đêm, không còn tuân theo nhịp di chuyển của chiếc đồng hồ dây cót, mà dựa vào nhịp điệu bật tắt của ngọn đèn duy nhất vẫn cần mẫn đung đưa giữa căn phòng.
     Tôi và Z, chúng tôi cuộn tròn bên nhau, lơ lửng trong cảm giác an tọàn và trọn vẹn tuyệt đối. Cảm giác trọn vẹn đến từ sâu trong trái tim chứ không phải bắt đầu từ cái dạ dày trống rỗng. Sự thật là chúng tôi đã cạn sạch lương thực. Và Z lại ra đi. Trên tay vẫn là “Những món đồ đi đường” được chắp vá thảm hại. Tôi đã bằng mọi cách ngăn cản Z. Nhưng rồi chính tôi bẽ bàng nhận ra, chính tôi mới là người hưởng lợi từ sự ra đi ấy nhất. Và giờ đây, rõ ràng cuộc sống của chúng tôi phụ thuộc vào sự ra đi ấy, tỉ lệ thuận với mức độ nguy hiểm mà Z phải đương đầu.
     Hãy tìm một món vũ khí mới! – Tôi nói với Z. Ngập ngừng một chút. Và… hãy trở về…
     Z nhìn tôi, mỉm cười, và kéo sầm cánh cửa sắt.            
     Và đừng bỏ lại em một mình ở đây – Tôi nói thầm trong suy nghĩ.
     Công việc đầu tiên của tôi trong ngày hôm nay là dọn dẹp đám chăn vương vãi trên mặt đất và cọ rửa bồn tắm. Trong bồn tắm, thứ nước lờ nhờ màu nâu tím đọng thành một lớp cặn bẩn trên thành. Mới chỉ hôm qua, tôi và Z đã quấn lấy nhau trong làn nước ấy. Tôi những tưởng nó là một màn nước xanh mát dịu hiền. Tôi thấy mình như muốn khóc. Mím môi, tôi đẩy nghiêng cái bồn, trút thứ nước bên trong xuống cái hố.
     Chiếc chăn tôi hay nằm đang vương trên sàn đất, loang lổ những vệt máu màu tím sẫm và đất bẩn. Z đã hứa sẽ mang về cho tôi một cái chăn mới. Nhưng chẳng phải tuyệt hơn sao khi chúng tôi cùng ôm lấy nhau trong tấm chăn của Z.
     Dồn chiếc chăn vào góc nhà, tôi sắp xếp lại những món đồ trên bàn, bắc ghế trèo lên lau lại chiếc bóng đèn, cảm giác như vì vậy mà ánh sáng trong phòng bớt chút tù mù.
     Xong xuôi mọi việc, tôi trèo lên giường của Z, kéo tấm chăn của chị lên sát mũi. Chăn của Z cũng có mùi ẩm mốc hệt như tấm chăn của tôi. Nhưng lẫn giữa những phân tử mùi khó chịu ấy, dường như tôi ngửi thấy cả một chút dịu dàng.




9
     Ngày hôm ấy, Z quay về với một chiếc túi chật căng, trên tay là một bó những thanh sắt dài ngắn hoen gỉ.
     Z trải chăn cho tôi vào tối hôm đó, rồi một mình chị, dưới ánh nến, tiếp tục gia cố những món đồ của mình. Tôi tỉnh dậy vào giữa đêm, nhẹ nhàng nhón chân đi về phía Z, thò tay ôm lấy chị từ phía sau. Nhưng trái với những cử chỉ âu yếm ấy, Z vội vùng dậy, đẩy văng tôi ra xa. Tôi ngã vào những cái ghế xếp quanh bàn, làm chúng đổ nghiêng, gãy vụn. Sợ hãi và đau đớn, tôi kinh hoàng nhìn Z.
     Chị đứng tựa lưng vào tường, món vũ khí nắm chặt trong tay, khuôn mặt cau lại đầy đe dọa. Đôi mắt không còn ánh tím dịu dàng chuyển sang sắc đỏ điên dại. Tôi vội vã nửa bò nửa ngồi, tiến giật lùi về phía gậm bàn. Khóc nức nở. Tôi cố bịt tai lại, nhưng dường như vẫn nghe thấy tiếng gầm gừ từ cổ họng.
     Rồi tiếng gầm gừ đe dọa chuyển thành tiếng thở dốc nặng nề. Món vũ khi trên tay Z rơi xuống, theo sau đó là đầu gối và bàn tay Z. Chị quỳ xuống trên cả bốn khuỷu, người run lên, đầu giấu kín giữa hai tay. Thời gian kéo dài như vô tận.
     Một cách chậm rãi, Z ngẩng đầu, nhìn về phía tôi. Tôi bắt đầu hoang mang. Nhưng đôi mắt màu đen tím hiền hòa và nụ cười khó khăn đã xuất hiện trên khuôn mặt lấm tấm mồ hôi. Z chìa tay cho tôi.
     Không sao, không sao nữa rồi…
     Tôi vẫn nức nở, cố thu mình lại trong bóng tối của gậm bàn.
      Đừng sợ… Là tôi đây mà…
      Bàn tay tôi chầm chậm đưa ra, run rẩy. Rồi tôi chạm được vào tay Z, cảm nhận được hơi ấm đang dần lan tỏa.  Không còn suy nghĩ, tôi lao vào Z, xô ngã chị, dùng cả cơ thể mình đè nghiến lấy chị, và hôn chị, mỗi cái hôn dường như cố sức bứt tung từng phần cơ thể. Tai tôi dường như ù đi vì luồng máu nóng chạy rần rật qua từng thớ cơ đau tức.
     Dường như tôi nghe tiếng rên xiết, nhưng cuối cùng, tôi chẳng thể nào nhận ra đó là tiếng của Z hay tôi.



10
     Tôi tỉnh lại sau đó không lâu – đó là những gì cơ thể vật lý của tôi ghi nhận được, bởi ánh sáng chiếu lên mí mắt. Nhưng thứ ánh sáng này hoàn toàn khác biệt. Nó dịu dàng đọng lại trên da tôi thành một vùng hình elip. Ánh sáng xuất phát từ một kẽ hở trên lớp trần chắp vá của căn phòng – thứ tôi chưa bao giờ nhận ra trước đây.
     Đèn vẫn chưa bật. Chúng tôi vẫn cuộn tròn bên nhau, da thịt cọ xát bó tròn trong chiếc chăn của Z. Z vẫn đang ngủ, cơ thể lật sấp, khoe ra tấm lưng màu nâu mềm mại. Tôi xoay người, gối đầu lên lưng Z, để luồng sáng kì lạ kia đọng trong lòng bàn tay, chơi trò ú òa với nó… Dù tôi có bày trò gì đi nữa, tia sáng vẫn ở đó.
      Rồi điều kì diệu xảy ra, khi giữa luồng sáng ấy, một vật thể nhỏ tí teo, trong suốt rơi xuống chầm chậm. Vật ấy rơi vào đầu ngón tay đang đưa ra của tôi.
     Á – Tôi khẽ kêu lên bởi cảm giác tê buốt chạm chạy khắp ngón tay. Cái vật ấy ngay lập tức biến mất, để lại trên tay tôi một vệt nước mờ mờ.
     Khoảnh khắc kì diệu ngắn ngủi làm tôi ngỡ ngàng. Vật kì lạ ấy là gì, nó đã biến đi đâu? Và tại sao tia sáng dịu dàng kia lại làm tôi thấy được an ủi đến thế… Tôi lay gọi Z, chỉ cho cô xem khám phá của mình.
     Thật khó để miêu tả Z lúc ấy. Chị sững sờ, nửa nằm nửa ngồi, cơn buồn ngủ vẫn chưa tan hết nhưng nỗi bàng hoàng sợ hãi đã kịp xâm chiếm. Z vội gạt tôi qua một bên, cố gắng bằng mọi cách che tia sáng ấy lại.
     Tôi đã hiểu ra, đó không phải một chiếc bóng đèn bí mật như chiếc bóng đèn chúng tôi từng thấy. Đó là một LỖ HỔNG. Và thứ đã chạm vào ngón tay tôi lúc ấy, chính là thứ đến từ bên kia lỗ hổng.
     Cũng tức là phía bên kia Căn phòng chắp vá của chúng tôi.
     Sự tò mò vốn ngủ quên trong tôi cựa quậy thức giấc.
     Đó là một thứ hết sức nguy hiểm. Em phải quên nó đi, nghe không? – Z nói với tôi, trước khi kéo cánh cửa.
    Tôi ậm ừ đáp lại Z, không thèm che giấu sự thật là toàn bộ tâm trí tôi đang dồn vào lỗ hổng ấy.