Sau cú flop lật mặt mang tên Alien: Covenant hồi tháng Tư vừa rồi, thì mình thực sự không nghĩ là trong năm 2017 này sẽ có phim sci-fi nào đủ sức vực mình dậy khỏi vực sâu u ám mang tên "flop lật mặt" nữa.
Nhưng đấy là câu chuyện xảy ra khi dư âm của LIFE vừa kịp tan hết và Valerian and the City of a Thousand Planets mới chỉ là một đoạn trailer ngăn ngắn.
Tối hôm nay, sau khi xem xong Valerian and the City of Thousand Planets, mình chỉ có thể thốt lên rằng: VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI!
Mình yêu phim này phát cuồng :))))
Dù so với những gì mà Luc Besson - đạo diễn của phim đã làm được trong những thập kỉ trước, thì bộ phim sci-fi này có vẻ vẫn chưa tới được cái độ mà nó phải tới - cho xứng với những người anh chị của nó chả hạn, thì đây vẫn là một bộ phim mà bạn có thể tận hưởng nó một cách trọn vẹn về cả hai mặt nghe - nhìn. Mình ghét phải nói những điều mà những người khác đã nói đi nói lại, nhưng chính thế - Valerian and the City of a Thousand Planets chính là một giấc mơ siêu thực và rực rỡ sẽ nuốt chửng bạn vào trong lòng nó ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi bộ phim bắt đầu.
Mọi thứ, từ những gì yên bình nên thơ, cho đến những thứ bầy hầy lớp nhớp nhất trong bộ phim này, đều tìm được cách thức của riêng nó để trở nên thật rực rỡ, thật lấp lánh, và khiến bạn phải thốt lên "UẦY!". Trải nghiệm thực sự của mình chính là có nhiều lúc chóng mặt muốn ói cả Coca (mình xem 3D, lại càng nhân thêm phần bá đạo của trải nghiệm) nhưng mắt vẫn không thể rời khỏi màn hình, vì sợ lỡ mất một khoảnh khắc của những thứ tuyệt đẹp ấy.
Phản ứng của mình với phần hình ảnh của Valerian and the City of a Thousand Planets nó cũng giống như hồi đi xem Star Trerk: Into the Darkness - lần đầu đi xem 3D xong quyết ngồi đến hết credit để nhìn ngắm cho thỏa khung cảnh vũ trụ trong phim, kết thúc là bị nhân viên rạp chiếu đèn vào mặt vì tưởng mình đã chết ngắc trên ghế :))) Chỉ khác là hồi Into the Darkness là do "sốc văn hóa", còn lần này là vì sốc ý tưởng :))) Từ những người Pearl cho tới Bubble, từ đống nhân vật phụ đầu phim cho tới những con robot ở cuối phim, từ bối cảnh bầu trời với những đám mây kẹo bông ở đầu phim cho tới đàn quái thú dưới biển lúc Laureline đi tìm Valeriam, thực là không tìm được điểm nào để chê trách.
Và có lẽ vì phim đẹp như một cô hoa hậu, nên để tiết kiệm cho khán giả một phần sức lực, cốt truyện phim của Valerian and the City of a Thousand Planets lại quá chân phương. Mọi thứ đi từ A đến B, từ nguyên nhân tới kết quả theo một đường mà loài ngựa có lẽ còn phải ghen tị vì ruột của chúng nó cũng chẳng thẳng được đến như thế =))) Theo cá nhân mình, thì chất lượng của kịch bản Valerian and the City of a Thousand Planets chỉ nằm đâu đó ở tầm chấp nhận được, và hơi "cổ điển" - nếu từ cổ điển được diễn xuôi là những bộ phim cũ cũ thỉnh thoảng vẫn được chiếu lấp chỗ trống trên Cinemax vào cái thời mà nó còn chưa phải Max by HBO.
Nhưng lối ví von này tuyệt đối không nhằm mục đích chê trách nội dung phim kém chất lượng. Nó đơn giản, nhưng mạch lạc và thành công trong việc dẫn dắt khán giả đến chính xác nơi họ cần phải đến, thay vì để lạc mất họ, hay một vài nhân vật trong phim, ở đâu đó giữa hành trình. Và quan trọng nhất, nó đủ dễ theo dõi để khán giả, khi mắt đang hoa lên vì những thứ tuyệt đẹp trên màn hình, vẫn đủ nắm bắt được cốt truyện.
Điều duy nhất mình cảm thấy không hài lòng với kịch bản này, nếu tạm bỏ qua diễn xuất của các nhân vật (cái này sẽ viết ở đoạn dưới) hay việc các bác Trung Quốc (lại) lấy quyền nhà đầu tư mà làm lố ra, chính là việc phim thiếu đi sự phản biện. Nếu coi cả bộ phim là một phiên tòa luận tội Nhân-vật-nam-ăn-cà-rốt (tạm thời mã hóa như thế để các bạn chưa xem không bị spoil =))) Mà thực ra là spoil rồi =)))), thì dường như anh ta đã mất đi quyền được tự bào chữa - chứ chưa nói tới chuyện gọi luật sư. Hết nhân chứng rồi lại tới "công tố viên" kể hết tội này đến tội kia của anh ta, lôi từ bằng chứng này đến bằng chứng khác, nhưng tuyệt nhiên anh ta chẳng có lấy đôi câu cho ra hồn để tự biện minh cho mình, ngoài một cái lí do mà nói ra còn bị ghét cho thêm.
Tất nhiên đây là một điều tất yếu, vì xuyên suốt một bộ phim mà các nhân vật ai nấy chiều sâu tâm lí dày chỉ vừa bằng một tờ giấy bay bay, thì không thể nào tự dưng mọc ra một ông nhân vật quá nhiều góc cạnh được. Cơ mà mình vẫn mong mọi thứ diễn ra nhiều day dứt hơn một tí. Nhưng thực ra, chính cô gái mong đợi sự day dứt ấy chính là người đã thở phào khi mọi thứ khép lại một cách dịu êm nơi biển xanh cát trắng :))) Đúng là chẳng biết đâu mà lần :v
Lại nói về biển xanh cát trắng. Mình đã nghĩ tên phim nên chăng hãy sửa thành Valerian và câu chuyện tán gái qua 1000 hành tinh thì hơn :))) Thật là mệt mỏi vì mối tình gà bông của hai anh chị :))) Nhưng mặt tích cực của vấn đề, là cái sự ỡm ờ ấy của hai anh chị vẫn dễ nuốt trôi hơi cái chuyện tình sống sượng của anh Tôm Cui với chị nữ chính trong The Mummy mới ra rạp vào tháng trước. Chỉ được mỗi cái nết đấy, chứ còn đâu em thấy các anh các chị đều củ chuối như nhau cả. Chưa kể anh với chị, cứ ở với nhau xong bắt đầu tình cảm mùi mẫn là sẽ có những đoạn hội thoại đúng chất ôm cua không cần lề luôn :v
Dane DeHaan trong phim này đã mở ra một kỉ nguyên mới cho các nhân vật nam chính hành động. Không cần quá cao, không cần quá đô con, cũng không cần phong trần lãng tử. Anh chỉ cần cao vừa chạm đỉnh đầu bạn đồng hành/bạn gái mình, thể hình cũng chỉ cần vừa bằng với chị ý, với một khuôn mặt lúc nào cũng đần ra như vừa bị tẩn cho một trận =)))) Mới nhìn chưa quen trông sẽ kiểu hèn hèn nhưng thực ra anh mới là nam chính với khả năng dời non lấp bể (chứ tuyệt nhiên không phải cái anh kĩ thuật viên mặt hoa da phấn cao to đẹp giai trong phòng chỉ huy =)))))).
Còn về phần Cara Delevingne, thì mình nghĩ cổ đã gặp may khi vào vai Laureline. Tất nhiên mình thấy được nỗ lực của Cara trong việc cải thiện khả năng diễn xuất. Nhưng giá mà sự tiến bộ trong diễn xuất diễn ra suôn sẻ được như quá trình thay đổi ngữ điệu từ Anh-Anh sang Anh-Mỹ của cô nàng. Vẫn một kiểu khuôn mặt thời trang thiếu linh hoạt đến nhàm chán, nhưng được sự lầm lì ngoài lạnh trong nóng của Laureline đỡ lại. Trường hợp của Cara - được nhân vật cứu lại diễn xuất có vẻ hơi trái ngược với cả bộ phim: được phần hình ảnh tuyệt vời nâng đỡ cho nội dung không quá vượt trội. Nhưng tóm lại, là "đôi lứa xứng đôi" - cả nhân vật và bộ phim.
Được biết, ngoài Valerian and the City of a Thousand Planets, anh đẹp và chị ngầu còn cùng nhau xuất hiện trong một phim khác cũng ra năm nay là Tulip Fever đóng chung với Alicia Vikander. Mình thực sự tò mò muốn biết, là ngoài hình ảnh couple trai hư - gái tsundere ra, thì hai anh chị còn tạo ra được thêm kiểu kết hợp nhân vật nào nữa =))
Kết luận lại, sau một bài viết rất dài và lan man nhiều chủ đề, Valerian and the City of a Thousand Planets là một phim mà bạn có thể yên tâm thưởng thức mà không phải lo ngại quá nhiều về chất lượng (cứ giả vờ không nghe thấy mấy tiếng Trung vang lên như chưởng Tàu trong phim đi nhé). Và trên đà tấn tới, xem xong phim này hãy về tìm xem The Fifth Element (Nguyên tố thứ năm) để thấy trai anh hùng, gái thuyền quyên nó thực sự là như nào nhé :))))
- Cà -
Hiển thị các bài đăng có nhãn Movie Blog. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Movie Blog. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017
Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017
A Walk in the Clouds – Vì tình yêu xứng đáng được lắng nghe
A Walk in the Clouds giống như một ngôi sao băng rơi
xuống cuộc đời tôi, trong đêm trước ngày cuối cùng của kì nghỉ lễ, giữa cơn
chán nản thường niên mà những thứ đồ chơi quen hay sở thích quen thuộc không thể
khoả lấp được. Bộ phim được chọn ra giữa một list dài các danh sách gợi ý vô
thưởng vô phạt, và tôi đã chọn nó, chỉ vì nó là một bộ phim của thế kỉ trước,
và nó có Keanu Reeves.
Bộ phim bắt đầu bằng một đoạn phim đen trắng,
quay cảnh chiến tranh, rồi thành phố với cửa sông và những con tàu khổng lồ đưa
những người binh sĩ quay trở về. Cảnh tượng ấy lập tức khiến tôi liên tưởng đến
một bức tranh thời hậu chiến đầy những mất mát và khổ đau. Nhưng không, đó
không phải A Walk in the Clouds, bởi khoảnh khắc tiếp sau đó, khi Paul – Keanu
Reeves bước xuống tàu, phần “lịch sử” với hai sắc màu đen-trắng kết thúc, màu sắc
xuất hiện, giống như cánh cổng dẫn vào một giấc mơ êm đềm xa rời những bi kịch
mới kết thúc vào ngày hôm qua.
Giấc mơ ấy bắt đầu bằng niềm hân hoan của chàng cựu
chiến binh tên Paul, ra mặt trận với tình thương yêu gửi lại người vợ nơi quê
nhà – một mối tình tiêu biểu của thời đại ấy, được gói gọn trong lời đùa cợt
“yêu nhau vào ngày thứ Sáu, cầu hôn vào ngày thứ Bảy, đám cưới vào ngày Chủ nhật
và lên đường nhập ngũ vào ngày thứ Hai”. Người bạn của Paul cũng đùa rằng có lẽ
Paul cũng chẳng thể nhớ nổi khuôn mặt của vợ mình, nhưng Paul khẳng định chắc nịch
rằng anh vẫn nhớ. Và đúng vậy, Paul chưa một ngày quên cô.
Cuộc hôn nhân của Paul chính là ví dụ cho những ảnh hưởng
của chiến tranh lên cuộc đời một con người. Ranh giới giữa sống và chết, nỗi ám
ảnh về “thời gian còn lại” đẩy người ta đi đến chỗ sống vội vã và hối hả đưa ra
những quyết định lớn trong cuộc đời – vì biết đâu mình sẽ chết ngay trong trận
đánh đầu tiên của đời quân ngũ. Người ta có thể mong đợi gì hơn ở
một cuộc hôn nhân chóng vánh, một cuộc hôn nhân giống nhiều hơn với một dấu tick
trong danh sách những việc cần làm của một chàng trai trẻ với nỗi ám ảnh sẽ
không sống đủ lâu để đi qua đủ những cột mốc trong cuộc đời mình?
Sau những ngày gượng gạo bên người vợ đáng lẽ ra phải mừng vui khi gặp lại, Paul xách vali lên đường, xếp lại kế hoạch cuộc đời
đẹp đẽ mà anh đã dày công tưởng tượng suốt những năm trong quân ngũ. Có ý
nghĩa gì đâu khi người phụ nữ của anh không muốn biết về chúng. Tất cả những gì
cô muốn, là anh quay lại với công việc của mình – nhân viên tiếp thị sô cô la,
và tạm thời biến mất khỏi căn nhà mà họ tưởng như sẽ cùng chia sẻ. Trên chuyến tàu đi Sacramento,
Paul vô tình đụng phải một cô gái vô cùng xinh đẹp. Dù rằng với anh, cô
giống với một “vận rủi” xinh đẹp. Một “vận rủi” mà anh vô cùng may mắn mới bắt gặp.
Victoria -"vận rủi" may mắn của cuộc đời Paul
Từ tàu lửa chuyển sang xe khách, rồi từ xe khách bị vứt
bỏ lại giữa đường vì trót làm anh hùng giải cứu mĩ nhân khỏi những kẻ quấy rối,
chàng trai Paul, mệt mỏi và kiệt quệ, lại một lần nữa nhìn thấy cô gái mặc váy
đỏ, giữa con đường mòn và bốn bề rừng núi. Cô gái ấy đang khóc, không phải vì
người bà yêu quý đã bị sói dữ ăn thịt như trong câu chuyện kể mỗi đêm khuya. Cô
khóc vì niềm hạnh phúc – cũng đồng thời là nỗi bất hạnh đang giáng xuống cuộc đời
mình. Cô đang mang thai một đứa bé, nhưng cha của nó lại ruồng bỏ cô, và bố của
cô sẽ giết cô vì chuyện đó.
Dưới vòm rừng yên tĩnh, nhìn thấy một cô gái đang cơn
bối rối, không nơi nương tựa, chìm trong bế tắc, bạn sẽ làm
gì? Chắc hẳn trong khoảnh khắc ấy, có một phần nào đó của Paul đã đồng cảm với tình
cảnh mà cô gái Victoria đang gặp phải. Họ đều là những người bị quay lưng lại bởi
người mình ngỡ như cả thế giới, ra đi mà không rõ mình phải đi đâu, hay cần gì.
Có khác chăng, với Paul, chặng đường của anh còn ở phía trước, còn với
Victoria, đã là chốn đường cùng. Và đó cũng chính là lúc, câu chuyện cổ tích bắt
đầu giữa họ, khi Paul đề nghị sẽ giả làm chồng của Victoria và cùng cô về ra mắt
gia đình. “Đến vào buổi tối, và ra đi vào sáng hôm sau.”
Điều buồn cười của tình huống này, với tôi, đó là cái
kịch bản không-thể-nhạt-nhẽo-hơn-được, bị sử dụng tới độ nhàm chán trong những
kịch bản phim truyền hình để câu nước mắt khán giả trong những
thập niên đầu tiên của thế kỉ 21, sao lại có thể vừa buồn bã lại vừa ngọt ngào
đến vậy trong một bộ phim làm vào thập niên 90 của thế kỉ 20. Khoảnh khắc Paul
đeo vào tay Victoria chiếc nhẫn của “cô dâu tháng Năm” – món đồ tặng kèm rẻ tiền
trong hộp sô cô la anh mang theo người, thế giới trong bộ phim như bừng sáng, một
thứ ánh sáng trong trẻo của lòng nhân hậu và sự sẻ chia không màng lợi ích.
Paul và Victoria trở về nhà cô – một trang trại trồng
nho mà tổ tiên Victoria từ hàng trăm năm trước đã dày công gây dựng. Sự xuất hiện của
đôi vợ chồng hờ được chào đón bởi cả trang trại một cách vô cùng ồn ào và náo
loạn. Giống như cái ồn ào và náo loạn xảy ra với mọi gia đình khi họ chào đón một
người thân yêu nơi phương xa quay về. Có tiếng cười, có những cái ôm, và cả những
lời quát nạt. Nhưng trong khoảnh khắc đoàn viên ấy, ngay cả những lời quát nạt
giận dữ cũng vẫn sẽ được ghi nhớ như những nụ cười.
Tiếp sau một bi kịch gia đình thời hậu chiến, một cuộc gặp gỡ hài hước và lãng mạn, A Walk in the Clouds mở ra trước mắt khán giả
một bức tranh gia đình ấm áp tình thương giữa khung cảnh xanh mướt của những
dây nho đang vừa độ quả chín. Gia đình ấy có một người cha lúc nào cũng quạu cọ, cảm
thấy bị phản bội bởi cả gia đình vì chẳng ai đứng về phía ông trong cuộc đối đầu
ngầm chống lại anh con rể bất đắc dĩ, có một người mẹ vừa dịu dàng vừa thông
minh, có ông bà đã yêu nhau qua nhiều thập kỉ, thông thái và khéo léo, mềm mỏng
giải quyết mọi việc theo cách của riêng mình. Đó là thế giới của Victoria ở vườn
nho của gia đình – trang trại với cái tên giản dị “Đám Mây”, là thế giới mà cô
vừa sợ hãi lại vừa yêu mến, vừa cố hết sức mình để che giấu và bảo vệ. Nhưng ở một
khía cạnh khác của câu chuyện, dưới góc nhìn của Paul, đó lại là một giấc mơ đẹp
mà cả cuộc đời này anh không bao giờ có được.
Nỗi bất hạnh ấy như một vệt mờ trên thành chiếc ly thuỷ
tinh bóng sáng chứa bên trong nó thứ rượu vang hảo hạng được gia đình Victoria làm
ra từ những trái nho trồng trên chính mảnh đất của họ. Vết bẩn ấy không khiến
thứ rượu bớt đi mùi vị, nhưng rõ ràng nó khiến người thưởng thức đôi lúc phải
cau mày. Bởi sau tất cả những hạnh phúc, những hài hước cười đùa khơi nguồn từ
cuộc cạnh tranh trong im lặng giữa bố và con rể, hay sự tác hợp đầy ẩn ý của
ông và bà, A Walk in the Clouds vẫn là câu chuyện về anh lính giải ngũ
chơi vơi giữa mong muốn và thực tại, cô gái Victoria không tìm được cách để cất
lên tiếng nói của mình, và thứ vừa là tình yêu chân thành mê đắm, vừa là thứ mặc
cảm tội lỗi mà họ không thể nào vượt qua. Vì anh đã có vợ, còn cô mang thai đứa
con của một người khác. Gia vị cho câu chuyện tình yêu bi kịch ấy là một người
bố bảo thủ với nỗi ám ảnh về trách nhiệm với gia đình.
Đôi lúc, giữa bộ phim, tôi đã ghét Paul kinh khủng.
Tôi ghét Paul vì tại sao anh cứ mãi bị ám ảnh bởi người vợ không xứng đáng mà
buộc phải giữ mình tránh xa khỏi Victoria; tại sao sự tận tuỵ của anh với
Victoria lại giống như một hình phạt? Không phải cả cuộc đời cô độc của Paul,
anh chỉ mơ về một mái ấm gia đình, và suy nghĩ ấy đã giữ anh sống sót suốt cả
cuộc chiến hay sao? Vậy mà khi báu vật ấy đến bên anh, trong dáng hình một cô
gái mặc váy đỏ, Paul lại chần chừ quay lưng. Có lẽ sự thể ấy cũng có thể lí giải
bằng hai từ “tận tuỵ”. Paul tận tuỵ với gia đình mà anh đang có, với một người
vợ từ chối lắng nghe những suy tư của anh, từ chối đọc những lá thư anh viết từ
mặt trận, không xuất hiện trong ngày anh từ chiến trường trở về… chỉ vì cô ấy
là vợ anh, và đó là gia đình đầu tiên anh có được.
Một sự cứng đầu đáng ghét. Nhưng cũng đáng thương, và
đáng yêu vô cùng.
Khoảnh khắc buồn nhất bộ phim với tôi, có lẽ là cảnh
bình minh trên đường quốc lộ, Paul xin đi nhờ một chiếc xe tải. Người tài xế xe
tải hỏi anh, qua lớp kính cửa, rằng Paul đi từ đâu tới. Paul trả lời, anh vừa dạo
bước trên mây. Và người tài xế đáp, chào mừng anh trở lại mặt đất. Còn gì buồn
hơn thế chăng? Khi tháng ngày hạnh phúc chỉ là cuộc tản bộ giữa những đám mây,
nửa hư nửa thực, nửa này đáng tin, và nửa kia bất khả. Paul đã có được trong
tay hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy yêu cầu anh một sự tráo đổi. Nhưng Paul không
giống như nàng tiên cá Ariel sẵn sàng cho đi giọng hát của mình để đổi lại đôi
chân bước đi trên mặt đất. Anh chọn trở lại mặt đất và sống với thực tại của
chính mình. Khó có thể phân định rạch ròi quyết định của Paul là dũng cảm hay
hèn nhát, bởi ở nhẽ nào đi nữa, nó cũng là sự hi sinh của chính anh, để bảo
toàn những giá trị mà anh tận tuỵ vun đắp và bảo vệ. Ở khía cạnh đó, Paul phần
nào đã trở thành một hình ảnh khác của người cha mà Victoria luôn kính sợ - người
cha hi sinh cả cuộc đời mình để cống hiến cho gia đình, mà quên đi mất tình yêu
thương của ông cũng chính là sự cống hiến. Bởi hạnh phúc của chính ông cũng
đóng góp vào hạnh phúc của những người mà ông mong mỏi họ được hạnh phúc.
Tất nhiên A Walk in the Clouds không khép lại ở cảnh
phim đó, nó chỉ là một nốt lặng để sau đó, bộ phim chuyển sang một chương mới, có
mất mát và đau thương nhưng đầy tươi sáng và ngân nga mãi thanh âm của hi vọng
và hạnh phúc đoàn viên. Nhưng với tôi, phiên bản bộ phim của tôi đã khép lại ở
chuyến xe ấy, bởi theo một lối logic kì quặc nào đó, nó khiến tôi liên hệ tới
chính cuộc đời riêng của Keanu. Anh giống như Paul khi ấy, đã không lựa chọn bước
tiếp, mà đứng lại mãi với nỗi đau của riêng mình.
Hãy xem A Walk in the Clouds như cách bạn chậm rãi đọc
một cuốn tiểu thuyết xưa cũ. Không phải vì bối cảnh chính của bộ phim là những
năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II hay vì bản thân bộ phim đã là một sản phẩm
của thập niên trước. Hãy xem nó thật chậm rãi, vì giữa từng lời thoại hay thẳm
sâu trong thế giới của mỗi nhân vật, là một câu chuyện dài xứng đáng được lắng
nghe.
Tình yêu cần được lắng nghe, và xứng đáng được lắng
nghe. Quay lưng lại với tâm tư ấy, là người ta đã không còn xứng đáng với nó nữa
rồi.
Anh
Phan.
Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016
Star Trek BEYOND (2016) - Hành trình 50 năm vào dải ngân hà
Đầu tiên là ba vạn tám nghìn tỉ lần cảm ơn giời, cảm ơn bạn BTV bên báo đã đè mình ra bắt viết bài lịch sử Star Trek trước khi mình kịp ỉ ôi bắt nhân loại cho ra rạp xem bằng được :(((
Thứ hai là ối giời ơi :(((( Đây chính là cảnh giới fanboy viết kịch bản phim thường thấy trong cái-series-mà-ai-cũng-biết-là-Doctor-Who :((( Kiểu phim vừa hay ra rạp trúng dịp kỉ niệm 50 lịch sử Star Trek nên mỗi giờ mỗi phút trôi qua đều là một sự tribute đến TV Series năm 1956 ấy. Vì thế nên sau khi xem xong Star Trek Beyond thì mình phải nhao đi xem lại ngay Day of the Doctor để níu kéo thêm cái cảm giác tuyệt vời ấy ở lại bên mình lâu lâu thêm chút nữa.
Thề là trong" thực tại song song mới" Star Trek - hay còn gọi là phần reboot hay còn, được gọi là Kelvin Timeline (và bạn sẽ thấy cái tên Kelvin xuất hiện rất nhiều trong cả ba phần :v) dựa trên sự kính trọng mà J.J.Abraham dành cho ông của mình là Kelvin Henry (không phải anh Sịp đâu nhé), thì phần phim thứ ba này gần như làm mình muốn xem lại ngay lập tức sau khi ra khỏi phòng chiếu í (ngặt cái hết tiền :v). Mặc kệ ai có nói nó sa lầy vào sự mệt mỏi của chuỗi phim ba phần, mình vẫn dành cho nó sự yêu thích và kính trọng đặc biệt.
Mà hình như mùa hè năm nay là mùa hè của những phim hoài cổ thì phải :v. Nghe đồn "The Big F*cking Giant" a.k.a The BFG cũng sa đà vào lối kể kiểu chầm chậm hay có trong các phim ngày xưa mà thành ra khó theo dõi. Con Star Trek Beyond thì cứ làm mình nhung nhớ cái không khí của các phim khoa học viễn tưởng hồi phía giữa về cuối thế kỉ 20. Có hơi buồn một tí vì ngày nay những phim khai thác tương lai theo hướng Utopia thường bị cười cợt là trò trẻ con, và xu hướng hậu tận thế lại đang dần trở thành định nghĩa quen thuộc và dễ chấp nhận khi nói về chủ đề ấy; nhưng khi xem Star Trek, góc nhìn tích cực - tất nhiên đầy cổ điển của nó làm mình cảm thấy háo hức và được truyền cảm hứng kinh khủng ấy.
Nói đến đây lại spoil một tí nội dung =))))) Cái đoạn "classical music" cuối phim làm mình cười tí sặc.
Như các bạn đã biết =)))), biên kịch của Star Trek Beyond là Simon Pegg - người đồng thời cũng thủ mai Montogomery Scott và Doug Jung (cho ai muốn một chút sốc-không-sex, thì đây chính là anh đóng vai partner của anh lái tàu Hikaru Sulu =)))))) Sự tham gia của Simon Pegg trong vai trò biên kịch đã khiến Star Trek Beyond có thêm sắc màu mới. Và tất nhiên, vì là người viết kịch bản nên ổng đã "ăn gian" cho nhân vật Scott nhiều đất diễn hơn, để ảnh có thêm thời gian mà trình diễn stand-up comedy, lối tấu hài một người đã mang lại cho Pegg danh tiếng một thời. Scott xuất hiện nhiều hơn, đồng nghĩa với việc trong Star Trek Beyond, yếu tố hài hước trở nên rõ nét hơn so với hai phần trước đó. Thế nhưng yếu tố hài hước không khiến mạch phim bị loãng, hay nhạt nhoà, trái lại, nó là những khoảng nghỉ cần và đủ xen giữa những cao trào hành động xuất hiện dồn dập ngay từ những phút đầu phim.
Cá nhân mình nhận xét cốt truyện của Star Trek Beyond xúc tích, đủ chiều sâu và kịch tính để khán giả không kịp cảm thấy nhàm chán khi theo dõi trên màn ảnh - nhưng tất nhiên với điều kiện họ phải vượt qua được quãng 10 phút đầu phim cho giới thiệu nhân vật, và lồng ghép cả những kiến thức về kịch sử Star Trek từ những năm tháng xa lơ lắc. Phần mở đầu ấy được giới thiệu bằng giọng tự sự của Kirk, khá dài, sẽ khiến những bạn trẻ không quen thuộc với dòng phim bị hoang mang, nhưng vẫn đủ chi tiết và rành mạch để họ hiểu được vấn đề mà nhân vật chính đang phải đối mặt - như một câu thoại của nhân vật mình đã quên mất tên - rất dễ lạc khi đi trên một chuyến hành trình vô định.
Dễ dàng nhận thấy sự mệt mỏi và lạc lối ấy của Kirk trong nhật kí của anh - khi sự ổn định trở thành một nhịp sinh học nhàm chán, và ta bắt đầu nhớ đến một điều mà bản thân hiểu rõ ràng, nhưng không thể bật ra thành ý tưởng - những biến cố. Vấn đề của Kirk vẫn thế, sau ba phần. Anh là ai, và anh muốn là ai. Nhưng chỉ đến Star Trek Beyond, nó mới thực sự được bắt tay vào giải quyết, theo một cách rất tinh tế. Mọi thứ riêng lẻ, tưởng chừng như không có mối liên hệ về động cơ, nhưng tựu chung lại, đều xoay quanh việc giải đáp khúc mắc về tâm lý ấy của Kirk.
Cơ mà cái thứ thuyền trưởng gì lúc nào cũng chỉ chực bỏ tàu, giao quyền chỉ huy tàu cho hết thuyền phó lại đến hoa tiêu, và mặt thì chẳng bao giờ lành lặn cả =)))
Sau Kirk, các thành viên khác trong phi hành đoàn như Spock, Bones, Uhura, Sulu... đều không có những thay đổi đáng kể trong quan điểm, trong tâm lý hay cảm xúc. À quên, có Spock. Nhưng vì phần reboot tập trung "dìm hàng" anh theo hướng một người đàn ông cứng nhắc và vụng về với chỉ số EQ thấp thảm hại, nên những vấn đề tưởng chừng rất to tát nơi anh đều chả đi đến đâu cả. - Cái này thì mình không đồng tình lắm này.
Scott: Anh tặng bạn gái mình một khối thiên thạch nhiễm phóng xạ hả?Spock: Nhưng mức phóng xạ của nó không gây nguy hiểm! Mức phóng xạ chỉ vừa đủ để ta dò ra nó.Scott: Vậy hoá ra anh tặng bạn gái mình một thiết bị định vị từ xa!
Nói đến đây lại nhớ ra cả anh Sulu nữa T"T. Trong bài báo về lịch sử Star Trek mình có nói một đoạn khá dài về anh, nhưng cuối cùng bị cắt "xoẹt" một phát :(( Thôi để sau post lại vậy.
Hoá ra các nhân vật cũng thay đổi nhiều phết qua các phần.
Về mặt tinh thần, thì mình thích cái cách bộ phim được triển khai theo hướng "Nhân vật chính của bộ phim này là phi hành đoàn Starfleet" thay vì một mình Kirk hay bộ ba "bromance" Kirk - Spock - Bones. Không còn cái kiểu tất cả manh mối đều tập trung về Kirk và các nhân vật khác chỉ có nhiệm vụ giúp anh thu thập nó như trong Into the Darkness, Star Trek Beyond gửi gắm cho mỗi nhóm nhân vật một nhiệm vụ riêng biệt - giống như thể giao vào tay họ những mảnh ghép, bình đẳng với nhau về tầm quan trọng, về nội dung và vị trí của nó trong bức tranh lớn. Đây không còn là câu chuyện về một người anh hùng cứu cả phi hành đoàn của mình. Đây là câu chuyện về cả một phi hành đoàn đang trên con đường thực thi sứ mệnh của họ. Khám phá những vùng đất chưa ai đặt chân đến, và bảo vệ nhau như một gia đình.
Nếu Star Trek là series dài hơi độc đáo hơn cả so với con số hàng trăm những bộ phim du hành vào tương lai, thì Star Trek Beyond chính là phần phim độc đáo hơn cả so với hai phần còn lại trong series reboot. Và mình cũng đang ngóng chờ TV series mới sẽ ra mắt vào năm 2017.
Mình không rõ những cảm xúc đặc biệt của mình dành cho Star Trek có bị ảnh hưởng nhiều từ Doctor Who hay cái chết đột ngột của Anton Yelchin hay không, nhưng rõ ràng bộ phim đã khiến mình có những cảm xúc rất cụ thể - không phải kiểu ôi hay ghê ôi hay quá, mà nó là những khoảng rất riêng mà mình có thể đồng cảm cùng các nhân vật, và một tinh thần chung đủ khiến mình say mê và sẵn sàng đào bới lại 50 năm lịch sử.
Còn về người mà bộ phim được làm ra để dành tặng, ít nhất Anton Yelchin cũng đã có một màn trình diễn thật tuyệt vời. Cậu ấy đã khiến nhân vật Chekov "trưởng thành". Từ chỗ là chàng phụ lái, rồi cậu thợ máy lúc nào cũng cuống quýt cả lên, tới độ phá banh cả con tàu, Chekov đã trở thành một người đồng đội mà Kirk có thể tin tưởng, cùng anh chiến đấu trong những giờ khắc sinh tử, dù rằng về bản chất, anh vẫn là một người bi quan không thể tả. Đoàn làm phim đã xác nhận họ sẽ không cast diễn viên mới vào vai Chekov thay cho Yelchin. Mình nghĩ đó là một quyết định đúng đắn, vì không ai có thể thay thế được Anton trong việc khắc hoạ sự trưởng thành của một nhân vật - dù chỉ là một vai thứ, rõ nét trong cả diện mạo lẫn tâm hồn như anh.
Không nhắc đến chuyện buồn, hãy nói đến những điều vui hơn nằm ngoài khuôn khổ Star Trek Beyond. Có lẽ ít người nhận ra, nhưng trong phần credit cuối phim, John Cho đã được đưa lên đầu danh sách dàn cast thay vì Chris Pine hay Zachary Quinto =))) Mình không biết có phải do cả đạo diễn và một trong hai biên kịch là người gốc Á, hay có đến hai cái studio Tàu tham gia sản xuất phim này, hay chiến dịch đòi công bằng cho các diễn viên gốc á của John Cho đã thành công, mà tên anh trong khoảnh khắc đã "sáng nhất vũ trụ" =)) Âu cũng đáng mừng lòng =))))
Anh Phan
Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015
[Tạp chí Sành điệu số tháng 11] SPECTRE: Di sản của Craig
Từ năm 2006 đến nay, Daniel Craig đã tham gia vào 4 phần
phim về chàng điệp viên diêu hạng James Bond cũng như hàng loạt các sản phẩm ăn
theo khác. Nhưng có lẽ giống người tiền nhiệm Pierce Brosnan, bốn phần phim đã
là quá đủ với Craig khi mới đây, anh đánh tiếng với báo chí rằng sau “Spectre”,
anh đã cạn kiệt ý tưởng cho Bond.
Tạm gạt sang một bên những suy luận hay phỏng đoán về
tương lai của 007 hay Daniel Craig, hãy cùng nhau nhìn nhận lại những dấu ấn mà
nam diễn viên đã để lại khi anh sắm vai gã điệp viên đào hoa siêu hạng này.
1, Siêu điệp viên tuổi xế
chiều
Xuyên suốt 23 bộ phim và 6 “phiên bản” James Bond, siêu
điệp viên 007 luôn được “định nghĩa” là một người đàn ông đang ở tuổi sung mãn
(ngoài 40 là một con số ước lượng thích hợp), lão luyện trong ngón nghề tình
báo, chiến đấu trên thực địa và cả đánh cắp trái tim các quý cô.
Nếu so sánh Daniel Craig với những cái tên đã gắn liền
với nhân vật James Bond như Pierce Brosnan hay Sean Connery, anh dễ dàng bị
đánh trượt bởi yếu tố ngoại hình. Người ta nói Daniel quá lùn, quá già, thậm
chí… quá xấu để đảm đương được vai diễn này. Nhưng khán giả cứ mặc sức chê bai
khi cố áp Daniel vào khuôn mẫu đã có sẵn, còn Daniel, anh tự tạo ra một Bond
khác, vẫn “là James Bond”, nhưng được khai mở ở những khía cạnh tăm tối ít ai
nhận ra.
Đó là một gã đàn ông với khuôn mặt lầm lì, nhưng đôi mắt
màu xanh lơ buồn bã luôn rực lửa. Trái tim gã là một vùng đất hoang chìm trong
sương mù – nơi mà nỗi cô đơn và bóng đen quá khứ luôn ngự trị, làm khô héo bất
kì hạt mầm hạnh phúc nào toan bám rễ đâm chồi. Gã là một người đàn ông cô độc
trưởng thành từ một đứa trẻ bị buộc phải chịu đựng quá nhiều nỗi đau. Gã là
Bond – James Bond. Với mọi người, gã là một siêu điệp viên, nhưng với bản thân
mình, gã chỉ còn là một người đàn ông rệu rã.
Hình ảnh James Bond mà Daniel Craig xây dựng trong bốn
phần phim, đặc biệt trong Skyfall và Spectre vô cùng lạ lẫm. Nhiều người sẽ
thất vọng, nhưng đây là lần hiếm hoi ta có cơ hội được nhìn sâu vào tâm hồn
nhân vật mà mình ngưỡng mộ, để thấy được rằng hoá ra gã điệp viên siêu phàm, kẻ
luôn chiến thắng mọi kẻ thù nguy hiểm kia, khi đối mặt với thời gian, với nỗi
đau, và với cả quá khứ huy hoàng đã bỏ gã lại, cũng trở nên đáng thương như bao
người bình thường khác.
Daniel Craig, hay James Bond, tự “đưa tang” chính mình
trong suốt bốn phần phim bằng vô vàn những bóng ma trở về từ quá khứ, bằng những
cái chết gián tiếp giết đi một phần con người anh, bằng những kẻ thù luôn biết
cách tấn công anh bằng những đòn tâm lý hiểm độc nhất. Một phiên bản James Bond
cô độc và u tối giúp Daniel Craig tự đánh dấu mình trong lịch sử hơn 50 năm của
dòng phim.
2. “Một nhẫn chúa thống trị
tất cả…”*
Trong Spectre,
Bond dấn thân vào cuộc truy tìm tung tích một kẻ lạ mặt theo di nguyện của M.
Cuộc truy lùng này dẫn anh đến chỗ sa chân vào tổ chức tên Spectre với dấu hiệu
nhận biết là chiếc nhẫn khắc hình bạch tuộc. Chiếc nhẫn này cũng chính là vật
chứng bất hạnh buộc anh phải xới tung quá khứ đau buồn còn chưa kịp chôn sâu
đóng chặt từ tử địa Skyfall.
Tạo nên tính liên kết về cốt truyện hay nhân vật giữa
các phần phim đang là một xu hướng thịnh hành. Nhưng thay vì khiến từng phần
phim một liên kết với nhau theo chuỗi mắt xích, bốn phần phim về 007 trong giai
đoạn của Daniel Craig lại tung ra trước ba “quân cờ” đơn lẻ, ba kẻ phản diện dường
như không có liên hệ gì đặc biệt với nhau. Sự xuất hiện của những kẻ ấy chỉ có
giá trị khi “trùm cuối” xuất hiện và kết nối tất cả, như những chiếc chân đơn lẻ
nối liền với cơ thể phía trên nó. Đây là
lúc con bạch tuộc thành hình và siết chặt con mồi của nó lần cuối cùng. Và con
mồi ấy chính là James Bond.
Sự phân bổ về mặt ý tưởng này của Spectre cũng như ba phần trước đó gồm Casino Royale, Quantum Solace
và Skyfall sẽ giữ được sự hào hứng của
khán giả tới những phút cuối cùng. Nhưng mặt khác, sự gọn ghẽ đến kì lạ này cũng
là lời tiên đoán một chương nữa trong lịch sử rất dài mà Ian Fleming là người
chắp bút của James Bond sắp khép lại cùng với ngọn lửa nhiệt huyết dành cho
nhân vật của Daniel Craig đã lụi tàn.
Nhưng ít nhất, giống như Christian Bale đã làm với
nhân vật Bruce Wayne trong Batman trilogy, Daniel đã hoàn thành trọn vẹn một chặng
đường cùng nhân vật của mình, với mở đầu và kết thúc tạm cho là trọn vẹn.
3. Và một chương chưa từng
có trong cuộc đời James Bond
Đó là chương truyện nên được đặt theo tên tác phẩm lừng
danh của Ernest Hermingway với tên gọi “Giã từ vũ khí”. Đây là chương đầu tiên,
và duy nhất trong suốt bốn phần phim viết về tương lai, mở ra bằng cảnh James
Bond và Bond girl cùng ngồi bên nhau
trên băng ghế trước chiếc xe hơi được Q phục chế lại từ chiếc xe “chỉ còn vô
lăng”, dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới, không thể đoán trước, không giống bất
cứ điều gì từng xảy ra trước đây trong cuộc đời họ.
Nhưng điều thú vị nhất của chương mới này là gì? Là cuối
cùng trong bốn phần phim dài đằng đẵng, đã có một Bond girl thoát kiếp bạc mệnh, là cuối cùng James Bond đã rũ được
bóng ma quá khứ khỏi đôi vai, hay sự hào hoa và liều lĩnh vẫn chảy trong Bond
ngay cả khi anh đã sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả? Đó là một câu hỏi nhiều lựa
chọn, nhưng phương án thứ ba cũng không phải lựa chọn quá tệ để bắt đầu một
chương mới trong cuộc đời.
Anh Phan.
*trích thơ từ “Chúa Nhẫn”
Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015
[Tạp chí Sành điệu số tháng Mười] Phim truyền hình nửa cuối 2015 hay sự “lấn sân” của horror slasher
Thể loại phim đặc trưng bởi
những tên tâm thần giết người hàng loạt, bạo lực, máu me và một cốt truyện “thẳng
đuột từ đầu đến cuối”, nổi tiếng với những cái tên như The Evil Dead, Halloween,
Friday the 13th, Scream,
The Night Mare on Elm Street… đang tấn công dữ dội sóng truyền hình trong nửa
cuối 2015.
1. Từ những đặc trưng tưởng
chừng không thể dung hoà của thể loại
Chuyện kể rằng ở vùng dân
cư nọ với những bí mật đen tối, tồn tại một tên sát nhân đeo mặt nạ và một nhóm
người vô tình nhưng hữu ý lọt vào tầm ngắm của hắn. Và sau hàng chục phút phim
gồm những cảnh chạy trốn, la hét, tra tấn, bộ phim sẽ kết thúc bằng việc nhân vật
sống sót sau cùng (thường được gọi bằng cái tên mĩ miều final girl) run
rẩy chạy về phía ánh đèn phía xa, cầu xin sự giúp đỡ. Tên giết người hàng loạt
đã bị final girl hạ gục một cách thần kì, trước khi, một cách thần kì
hơn thế, sống lại vào phần tiếp theo và tìm kiếm một nhóm nạn nhân mới. Đây
chính là bản mô tả đầy đủ và ngắn gọn nhất những gì thường xuyên xảy ra trong một
bộ phim thể loại slasher.
Nhanh gọn, chóng vánh,
nhân vật thay mới toàn bộ qua các phần, không cần quá nhiều lí do hay lòng nhân
từ được ban phát, slasher quả
là thể loại phim có sức mạnh “tận diệt” các nhân vật. Sự “phung phí”
này rõ ràng trái ngược hoàn toàn với tiêu chí của các TV Series nói chung, vốn nặng
ở cốt truyện rối rắm và vô cùng, vô cùng tiết kiệm nhân vật.
2. Cho tới sự dung hoà đầy
táo bạo
Đầu tiên, hãy phân tích Scream
The TV Series. Mùa đầu tiên đã khép lại, tên giết người tâm thần ghostface
đã lộ diện, final girl cứu được (hầu
hết) những người bạn của mình. Nhưng không ai biết vẫn còn một kẻ đồng phạm
lang thang ngoài kia, âm mưu những kế hoạch mới, trong một mùa phim mới.
Điều thú vị nhất trong phiên
bản truyền hình này chính là việc đội ngũ sản xuất đã thêm vào cốt truyện phim
nhiều tuyến nhân vật hơn, nhiều xung đột hơn, mốc thời gian dài hơn, nhiều tình
tiết “đánh lạc hướng” người xem hơn… tất cả nhằm mục đích mang lại cho người
xem một góc nhìn mới, không chỉ về bộ phim nói riêng, mà là cả thể loại slasher
nói chung. Vẫn là một cuộc trả thù của kẻ đeo mặt nạ ghostface, nhưng có chiều
sâu hơn, và nhiều cung bậc cảm xúc hơn.
Các nhân vật trong phim,
từ nạn nhân đến hung thủ, đều có cuộc sống đời thường với vô vàn những mối quan
hệ phức tạp, những ước mơ, những tham vọng, và kéo theo đó là cả những bí mật
đen tối không muốn bị phơi bày. Giữa một bộ phim mà đáng lẽ tất cả mọi việc phải
diễn ra thật nhanh chóng và gọn ghẽ, tới độ cảm xúc duy nhất tồn tại là sự kinh
hoàng, thì sự thương cảm có cơ hội được lên tiếng. Sự thương cảm ấy cũng chính là
thành công mà đội ngũ biên kịch của Scream the TV series đã đạt được khi
dung hòa thành công điểm yếu của thể loại slasher với thế mạnh của thể
loại phim truyền hình nói chung.
Cũng là tên giết người
hàng loạt sau chiếc mặt nạ, cũng là “tiếng thét”, nhưng Scream Queens lại
mang đến một trường trải nghiệm khác biệt cho khán giả. Ra mắt sau Scream
The TV Series, mang hơi hướng của Sorority Row (2009), Scream
Queens là TV Series sẽ khiến bạn cảm thấy kinh khiếp, không bởi những vụ giết
người - cái đấy để sau, mà là cách những quý cô “sống ảo” hợm hĩnh tự cho mình
là trung tâm của vũ trụ cư xử với bè bạn và những người ở “thế giới thực” bên
ngoài bốn bức tường ngôi nhà chung của họ.
Ngắm nhìn các quý cô xinh
đẹp diễu qua lại trong những bộ cánh đắt tiền, ganh đua lẫn nhau ngôi vàng “Ong
Chúa” là một việc làm mang tính giải trí cao độ, nhưng thú vui đấy chẳng mấy cũng
nhàm. Đừng lo, hãy để tên sát nhân sau chiếc mặt nạ quỷ màu máu cùng khiếu hài
hước quái gở của đội ngũ sản xuất bóc tách từng lớp của bí mật ghê tởm bị chôn
giấu kia.
Nếu ví Scream The TV
Series chân phương như câu chuyện về con sói giữa bầy cừu, thì Sream
Queens lại vô cùng quỷ quyệt, nhìn qua thì ngỡ là Jelly Bean – lấp lánh,
xinh đẹp và ngọt ngào, nhưng thực chất lại à Boozled Bean – không thể biết thứ
đáng sợ gì đang ẩn giấu sau lớp vỏ đường. Cùng là thể loại slasher, cùng
một motif kẻ tâm thần giết người hàng loạt và các nạn nhân, nhưng hai series lại
mang đến cho người xem hai trải nghiệm hoàn toàn khác biệt. Có thể nói, “truyền
hình hoá” thể loại slasher là một hướng đi đầy táo bạo mang lại những
thành công đáng mong chờ.
3. Và một tương lai đầy bất
ngờ cho thể loại
Có
một vấn đề mà mọi series phim truyền hình thể loại
slasher đều phải đối mặt: sự thiếu hụt
nhân vật. Khán giả luôn muốn khám phá chân tướng kẻ trốn sau mặt nạ. Nhưng một
khi chiếc mặt nạ đã bị gỡ bỏ, thì còn đâu tên giết người cho các phần kế tiếp? Thêm
vài đó, thật khó để tạo ra một tên tâm thần giết người hàng loạt khi các nhân vật
cứ chết dần mà không có thêm bất kì ai xuất hiện. Nghịch lí này giống như lời
nguyền ếm lên thể loại slasher, nhưng mặt khác lại là yếu tố ẩn chứa nhiều
bất ngờ, bởi, “Làm cách nào họ có thể tạo ra thêm một tên giết người hàng loạt chỉ trong một tập
phim?”.
Thêm một điều bất ngờ nữa
sẽ được hé lộ trong mùa phim cuối năm 2015 này là Ash vs. Evil Dead. Phiên
bản truyền hình của series phim ăn khách trong thời hoàng kim của slasher
này sẽ đưa nhân vật Ash, do chính nam diễn viên từng vào vai nhiều thập kỉ trước
– Bruce Campbell đảm nhận lên màn ảnh. Ash và người bạn đồng hành của mình sẽ bắt
đầu một cuộc phiêu lưu đẫm máu, kinh tởm và cả buồn cười chống lại các thế lực
ma quỷ ám ảnh cuộc sống con người.
Năm 1960, Alfred
Hitchcock đã khai sinh ra dòng phim slasher bằng Psycho. 55 năm sau, đây vẫn là lựa chọn
yêu thích của nhiều khán giả, dù rằng thời hoàng kim của thể loại đã qua từ lâu.
Hãy chờ xem sự “lấn sân” sang truyền hình của slasher trong nửa cuối
2015 này sẽ đưa những tên tâm thần giết người hàng loạt đi xa đến đâu trong một
thời điểm mà mọi thứ dường như đang đi vào độ thoái trào.
Anh Phan.
Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015
The Visit hay nỗi kinh hoàng lúc nửa đêm
Để tạo điều kiện cho mẹ và người tình mới có không gian riêng bên nhau, hai chị em Becca và Tyler đã lên đường về thăm ông bà ngoại mà chúng chưa từng gặp mặt. Đón chào hai đứa trẻ giữa khung cảnh nông thôn vắng lặng là ông bà chúng, với nụ cười rạng rỡ và những chiếc bánh quy tự nướng ngon lành. Nhưng cuộc hội ngộ đầy ngọt ngào nhanh chóng trở thành cơn ác mộng khi những điều kì lạ bắt đầu xảy ra sau 9 rưỡi tối.
Trong bộ phim thuộc thể loại kinh dị - rùng rợn này, người xem sẽ được thấy lại những điều đã tạo nên tên tuổi của M. Night Shyamalan từ những The Sixth Sense (Giác quan thứ sáu), The Village hay Signs: trẻ em, những vùng đất tách biệt khỏi thế giới văn minh bị bao trùm bởi bóng đen chết chóc – hay như trong bộ phim này, là hai đứa trẻ bước chân vào một thế giới vắng bóng người, bị đe doạ bởi một nỗi ám ảnh vô hình mà bản thân chúng không thể giải thích.
Nếu bạn đã chai lì cảm xúc với những bộ phim kinh dị mà trong đó nhân vật chính là “một nhóm thanh niên” vô tình khám phá ra bí mật chết người, hay một thiếu nữ phải đối mặt với quỷ dữ, thì The Visit sẽ giúp bạn định nghĩa lại khái niệm về nỗi sợ hãi.
Bỏ qua khái niệm về người bảo vệ và người được bảo vệ thường thấy trên màn ảnh, M. Night Shyamalan biến hai đứa trẻ thành con mồi, và, chi tiết sau có thể tiết lộ trước nội dung phim, ông bà chúng thành những kẻ đi săn điên khùng và khát máu. Khán giả hẳn còn nhớ đến Sinister 2 và The Poltergeist - hai bộ phim kinh dị khác với những đứa trẻ là nhân vật trung tâm đều được ra mắt vài tháng trước đó trong mùa phim kinh dị hè. Nếu The Poltergeist là ví dụ điển hình của một bộ phim kinh dị quá sức dễ thương, thì Sinister 2, giống như phần đầu tiên của nó, ngấp nghé đỉnh điểm của kinh khiếp khi người ta chứng kiến một đứa trẻ giết người trên màn ảnh. Còn trong The Visit, cuộc thám hiểm của hai chị em nhà Becca và Tyler nằm chính xác ở trung điểm của đoạn thẳng nối hai bộ phim ấy. Nó làm bạn khiếp sợ, nhưng cũng khiến bạn mềm lòng.
Bố của Becca và Tyler đã chuyển đến một thành phố khác cùng cô bồ nhí của mình, bỏ lại sau lưng 14 năm chung sống với hai đứa con và người vợ đã vì anh ta mà rời bỏ cha mẹ mình. Với nhân vật người mẹ, sự phản bội của chồng có lẽ là cái giá phải trả cho quyết định của mình, nhưng với hai đứa con cô, đó là một vết thương không thể chữa lành. Cú sốc về tinh thần ấy biến Tyler thành một đứa trẻ bị ám ảnh bởi vi khuẩn, và Becca không bao giờ nhìn mình trong gương. Nhưng trên tất cả những nỗi đau ấy, chúng vẫn là những đứa trẻ, và những đứa trẻ ở tuổi ấy bắt đầu tìm cách khẳng định bản thân mình. Tyler là một rapper nhí, còn Becca ấp ủ giấc mơ về một bộ phim tài liệu để đời.
Phim kinh dị được thực hiện ở góc nhìn thứ nhất không còn gì lạ lẫm. Nhưng khi góc nhìn thứ nhất ấy được đặt vào một, hay trong trường hợp này, là hai đứa trẻ, thì bộ phim sẽ giống như một gói quà lớn chờ tay người xem lần mở và cảm nhận. Từ góc nhìn của hai nhân vật ấy, chúng ta sẽ thấy được, không chỉ bí mật kinh hoàng được lần mở, mà cả tâm hồn của những đứa trẻ đang tìm cách vượt thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của chính mình.
Becca luôn cố gắng làm mọi thứ thật đẹp đẽ và hoàn hảo và sâu sắc theo một chuẩn mực của riêng cô bé – như thể bạn muốn làm loài vật nào, hay bạn sẽ hành động ra sao nếu ở trong trường hợp đó… Trong vô thức, cô bé luôn có xu hướng tìm hiểu hay đặt ra những vấn đề bên ngoài bản thân mình – những vấn đề mà khi tiếp cận nó, cô không phải chạm đến những nỗi đau của bản thân. Một cách vô cùng bản năng, cô tự nhận nhiệm vụ đi tìm thứ “thần dược” giúp giải phóng mẹ mình khỏi những khổ đau và dằn vặt bắt đầu từ chuyện xảy ra 14 năm về trước – ngày mẹ bỏ ông bà ra đi. Cô bé bị cuốn theo mục đích ấy, mà không mảy may nhận ra những điều bất thường xung quanh mình.
Trái với cô chị Becca, cậu em Tyler lại sử dụng máy quay để làm tất cả những gì mình muốn. Không cần phải có những khung hình đẹp, không cần một bộ phim sâu sắc, miễn là mình cảm thấy vui, thế là đủ. Và nếu Becca luôn tìm cách lảng tránh vấn đề, hay lí giải nó theo những cách ít phức tạp nhất, thì Tyler luôn thừa nhận nó, có thể bằng những giả thiết hay nghi ngờ, nhưng buộc phải tìm bằng được cách làm sáng tỏ. Trường đoạn Tyler phỏng vấn Becca thể hiện rất rõ sự khác biệt trong tính cách ấy. Trong khi Becca nói về cá heo, nói về vẻ đẹp của loài động vật ấy hay bất kể thứ gì khác, thì Tyler chỉ nói về hai điều: nỗi sợ hãi của cậu, và nỗi sợ hãi của Becca.
Tất nhiên, những thương tổn và nỗi đau thì không dễ gì chữa lành được trong một vài cảnh phim ngắn ngủi, nhưng trong trường đoạn phỏng vấn lẫn nhau của hai chị em ấy, người xem thấy được tất cả vẻ đẹp và nỗi buồn của hai tầm hồn trẻ thơ đang tìm cách an ủi nhau giữa những tổn thương mà người lớn đã vô tình gây ra cho chúng. Đó có lẽ nên là điều mà người ta nên giữ lại cho mình nhiều hơn khi nhớ về bộ phim này, hơn bất cứ sự kinh dị hay nỗi ám ảnh nào diễn ra sau đó.
Những bộ phim nước ngoài khi trình chiếu ở Việt Nam đôi khi có những cái tên hết sức “không liên quan” làm người xem phì cười. Nhưng cũng có những trường hợp hiếm hoi, cái tên tiếng Việt lại mang đến cho người xem một góc nhìn mới mẻ. Trường hợp của The Visit với cái tên “9 rưỡi tối” này là một ví dụ. Ông bà của hai đứa trẻ yêu cầu chúng đóng cửa phòng vào lúc 9 rưỡi tối, và sau 9 rưỡi tối, những điều đáng sợ bắt đầu diễn ra.
Thời điểm 9 rưỡi tối trong bộ phim giống như một điểm chuyển tiếp, từ tốt sang xấu, từ dối trá sang sự thật, từ trạng thái bình lặng sang nỗi kinh hoàng. Chín rưỡi tối vừa là thời điểm có thật, vừa là một hình ảnh mang tính biểu tượng khi rốt cuộc sau khoảnh khắc ấy các nhân vật đều lộ diện, đều tìm được lí do và động lực để phá bỏ rào cản tâm lý bên trong mình, để trốn thoát, để bảo vệ những gì mình yêu quý. Người mẹ cuối cùng đã trở về mái nhà xưa, còn hai chị em Becca và Tyler cuối cùng cũng có thể tự giải phóng bản thân mình khỏi nỗi sợ hãi đè nặng chúng, đàn áp chúng trong nỗi thống khổ. Khó có thể nói lũ trẻ trở nên tốt hơn, hay xấu đi sau điểm bùng phát ấy, nhưng có thể chắc chắn rằng, chúng đều trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Bộ đôi nhân vật ông bà trong The Visit chính là yếu tố khiến người xem sợ phát khiếp mà không cần đến hồn ma bóng quế nào. Được mô tả ban đầu là một cặp vợ chồng già phúc hậu, rồi sau đó là hình ảnh hai người già tội nghiệp với đủ thứ bệnh tật đau yếu trước khi trở thành thứ-mà-ai-cũng-biết, “nana” và “pop pop” chính là điều ám ảnh người xem, buộc họ phải băn khoăn tự đặt ra câu hỏi: Sợi dây gắn kết tình cảm giữa mình và những người thân thiết bền chắc đến mức nào, và phải chăng đó là một mối quan hệ vô cùng mong manh, sẽ đứt gãy nếu ta không bảo vệ nó?
Hai đứa trẻ Becca và Tyler, chưa từng trải qua thứ tình cảm gia đình nào khác ngoài tình yêu thương của bố và mẹ, đột ngột đến ở với ông bà trong một khu đất vắng bóng người, không có một “sự so sánh cần thiết” với những người xung quanh và trải nghiệm cảm xúc của bản thân để nhận ra điều nguy hiểm đang rình rập chúng. Lúc xem phim thì mình tự dưng có một liên tưởng giữa hai chị em trong phim với anh em nhà Hansel - Gretel (tất nhiên không phải cái bản có Jerremy Renner đâu nhé). Cũng là những đứa trẻ bị "bỏ rơi" giữa rừng, cũng có lò nướng, cũng có phù thuỷ - thậm chí còn có cả cảnh cô chị bị vứt vào lò; thậm chí cả việc hai anh em giết mụ phù thuỷ cũng được tái hiện lại. Xem xong phim mình còn có cảm giác kiểu tụi trẻ con trong phim kinh dị đang dần trở thành một thế lực còn mạnh mẽ hơn cả chúa quỷ nếu nhân vật này tồn tại.
Chẳng có cái gì là tồn tại mãi với thời gian. Mọi thứ sẽ thay đổi ngay từ khoảnh khắc bạn quay lưng đi. Vì thế hãy luôn cẩn thận với thứ bạn nhìn thấy thì quay mặt lại, và đóng chặt cửa sau 9 rưỡi tối. Đó chính là bài học cần được rút ra sau bộ phim này, kiểu kiểu thế.
S.Icarus
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









