Hiển thị các bài đăng có nhãn "A". Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn "A". Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

"A" - Sắc xanh tĩnh lặng (2)

3
Sau khi băng qua cánh đồng dương xỉ vẫn còn ướt đẫm sương, tôi tiến vào khu rừng đã hiện ra trước mắt. Khác với rừng trên ngọn núi có ngôi nhà của tôi – bao phủ bởi những cái cây to với bộ rễ kềnh càng chở trên mình hàng đống dây leo nhằng nhịt, loại cây chiếm ưu thế ở đây lại là thông và họ hàng của nó. Thẳng tắp, và toả ra mùi tinh dầu nhè nhẹ. Không khí ở đây có vẻ loãng hơn phía bên kia của thung lũng.
Tôi bắt đầu thấy khó thở, rồi chóng mặt. Những mảnh cuối cùng của bữa sáng trong dạ dày tôi chỉ trực trào ngược ra ngoài. Da tay và mặt tôi bắt đầu nóng lên và ngứa kinh khủng. Tôi loạng choạng ngã xuống một gốc cây gần đó. Chỉ đến lúc này tôi mới nhận ra không chỉ tay, mặt mà cả quần áo tôi đều bám đầy một thứ lông màu vàng nhạt. Thứ lông này cũng lơ lửng khá nhiều trong không khí. Tôi đã quá hấp tấp và bị tấn công. Vội vã đứng lên khỏi gốc cây, rũ sạch đám lông khỏi người, tôi kinh hãi nhận ra xung quanh chỗ mình vừa ngồi la liệt những con sâu lông béo múp phủ đầy thứ lông màu vàng nhạt kia. Mỗi khi vô tình chạm phải chúng, những sợi lông lại bung ra tự vệ.
SÂU RÓM. CHẾT TIỆT.
Tôi vội vã tháo chạy khỏi khu rừng, đầu hoa lên vì thiếu ô xi, và vì cơn ngứa kinh hoàng. Nháo nhào, tôi ngã vào đám dương xỉ và lăn tròn.
                                                                    ...

Sau cuộc tháo chạy khỏi đám sâu lông lá trong rừng thông, tôi mất trọn một tuần để chuẩn bị cho cuộc thám hiểm tiếp theo. Một tuần, trong đó phân nửa thời gian là để những vết sưng phồng xẹp xuống và cơn ngứa dứt hẳn. Liệu pháp chữa trị duy nhất tôi có được là những búi rong màu xanh thẫm ướt nhớp nháp vớt được từ dưới lòng suối-sông, một nhánh nước trong chảy ra từ khe núi mà tôi hay hứng nước. Đám thuỷ sinh có mùi không mấy thân thiện, nhưng tác dụng làm mát và giảm sưng của chúng thì thật đáng kinh ngạc.
Thời gian còn lại trong số những ngày chuẩn bị ấy, tôi dành cả ở thư viện “của tôi”. Vượt sông, chạy trốn đám sấu-sói lẩn trốn giữa những bụi cỏ, đôi lúc, không còn lựa chọn nào khác, tôi đành phải vung rìu chém chúng. Chiếc rìu với lưỡi cùn mẻ gây ra những vết thương vô cùng kinh dị. Điều này làm tôi nghĩ đến việc mình cần tìm một cuốn sách nào đó nói về cách làm sắc lại lưỡi rìu.
Thư viện là một khu nhà, mà so với tất cả những tàn tích tôi từng nhìn thấy, hoàn toàn nguyên vẹn. Những khối nhà được nối với nhau bằng những đoạn hành lang dày cỏ, có lẽ đã từng được sơn trắng. Một vài ô cửa sổ bị vỡ, nhưng không vì thế mà những cuốn sách bên trong nó bị ảnh hưởng. Tôi thường chui qua một cửa thông gió ở bên hông nhà, đột nhập vào kho lưu trữ, một toà nhà nằm tách biệt với khu tổ hợp kể trên. Một phần mái kho lưu trữ bị sụp xuống bởi ngọn của cái cây cổ thụ gần đó. Cái cây đổ nghiêng, tựa hẳn vào ngôi nhà tội nghiệp. Cái cây vẫn tiếp tục lớn, còn ngôi nhà vẫn oằn mình chờ đợi cái kết sau cùng của nó. Cá nhân tôi thì mong cái ngày ngôi nhà sập xuống sẽ không bao giờ xảy đến, vì bên trong nó là cả một thế giới mà tôi vẫn đang cố gắng tìm hiểu.
Bên trong nhà, không khí khá ẩm. Mùi mốc xộc lên từ những góc nhà đọng nước. Đây đó, khắp trong ngôi nhà này, những cuốn sách đang dần mục rữa. Vào mùa mưa, khi cơn lũ làm tôi không thể ở yên ổn trong ngôi nhà trên sườn núi, thì thư viện này chính là mái nhà yên ấm của tôi. Cũng trong thời gian ấy, bị giam lỏng trong ngôi nhà to lớn, bên ngoài là cơn mưa xối xả, dòng sông nước xiết chỉ chực cuốn trôi tất cả mọi thứ vô tình rơi xuống nó, tôi đã đọc kha khá sách trong thư viện này. Cũng chính trong thời gian này, tôi bắt tay vào di chuyển sách từ những kho đã bị nước làm ẩm đến một nơi theo tôi nghĩ là khô ráo hơn – chính là gian phòng trên mái nhà, cho đến khi cái cây đổ phá tan công sức của tôi, hoàn toàn.
Bây giờ đang là mùa khô – theo nghĩa là nhiều tuần liền không có mưa, chứ không phải kiểu thời tiết thường được mô tả trong sách. Nhiệt độ ở đây hầu như không thay đổi, chỉ đều đặn vận hành từ sáng sang tối, từ đêm sang ngày. Giống như tôi và hành tinh đang giam giữ tôi chỉ đơn thuần đi trên một cái vòng tròn hoàn hảo mà tâm của nó chính là mặt trời. Tôi cũng chưa bao giờ thực sự nhìn thấy mặt trời, nó chỉ là một vầng sáng mờ ảo màu vàng chanh trên nền trời dày đặc mây mù màu xam xám. Cũng tương tự như mặt trời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mặt trăng và những vì sao. Mặt trăng, đúng hơn là những gì còn lại của nó trên bầu trời, chỉ là một dải sáng bạc lấp lánh. Nhưng dường như đó cũng là câu chuyện của hàng chục năm về trước. Người ta đã cho nổ tung mặt trăng để ngăn chặn một hiểm hoạ nào đó. Nhưng dù gì đi nữa, với tôi bây giờ, câu chuyện lịch sử ấy cũng không còn quá quan trọng.
Trong ngày đầu tiên ở thư viện, tôi tìm được rất nhiều sách viết về những cây thông. Phần lớn chúng chỉ ra rằng loại cây này mọc nhiều ở một vùng gọi là “ôn đới”. Tôi đào sâu hơn trong các tư liệu để tìm hiểu về loài sâu lông lá sống kí sinh trên thân loại cây ấy. Một loài gây hại. Cách phòng trừ hiệu quả nhất là phun thuốc. Tôi không có thuốc.
Sau cây thông và loài sâu gây hại, cụm từ “ôn đới” làm tôi bị ấn tượng. Tôi bắt đầu đọc về các đới khí hậu. Tiếc thay tôi sẽ mãi mãi không còn cơ hội để chứng kiến chúng: những ngày mùa xuân mưa bụi ấm áp, những ngày mùa hè nóng nực, mùa thu mát mẻ và mùa đông giá buốt. Chúng tôi – tôi và tinh cầu này đã đánh mất điều ấy mãi mãi.
Sau hai ngày ở thư viện với những chồng sách về địa lý tự nhiên, tôi cuối cùng cũng nhớ ra những ghi chép của Zerphy. Sự nhớ ra ấy kéo theo một cơn tò mò kinh khủng. Tôi tưởng tượng ra cái kén, màu trắng ngà, chờ đón tôi giữa khoảng rừng màu xanh thẫm. Cái kén có lẽ sẽ là câu trả lời cho mọi thắc mắc của tôi về Z.

Đêm hôm ấy, bên ngọn lửa nhóm vội từ những thứ cây cành lấy được trong khuôn viên thư viện, tôi nhấm nháp nốt những quả đào cuối cùng còn lại trong túi, tay lần giở từng trang giấy nhăn nhúm với nét bút mảnh những rõ nét của người tên Zerphy. 

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

"A" - Sắc xanh tĩnh lặng (1)


1
Tôi guồng chân chạy. Phổi cạn sạch dưỡng khí. Từng nang phổi khô cháy kêu gào ôxi. Nhưng tôi vẫn chạy. Mải miết. Dường như với mỗi giây chậm trễ, tôi đang tiến gần hơn đến cái chết.
CHẾT.
Một âm thanh thật bình yên. Một động từ giải phóng tất cả những đớn đau và sợ hãi mà tôi phải chịu đựng. Không thể tin được, không lâu trước đây, tôi còn khao khát cuộc sống NÀY – cái cuộc sống mà mỗi giây qua đi đều là một lời tạ ơn cuộc sống.
Phía sau lưng tôi, thứ sinh vật kinh khủng lai giữa cá sấu và chó sói đang đuổi đến rất gần. Con quái thú có hàm răng khoẻ với những chiếc răng màu ngà dài và nhọn hoắt của loài sói, nhưng làn da lại thô nhám và ẩm ướt như thể loài cá sấu lưỡng cư. Những đặc điểm của hai loài khác biệt cùng tập hợp trên một cơ thể khiến con vật có một dáng vẻ gớm ghiếc. Tuy nhiên, ơn trời, khác với cái hình dạng vẫn mang dấu vết của loài cá sấu, con vật không hề biết bơi.
Đôi tai ù đặc của tôi không còn nghe thấy gì ngoài tiếng đập gấp gáp của quả tim trong lồng ngực. Tuy nhiên đôi mắt đã gần mờ của tôi vẫn nhìn thấy dải màu xám trắng vắt qua những búi cỏ cao. Một cú nhảy gấp gáp. Tôi lăn tròn trên chiếc bè tự chế, kết thúc một cách tuyệt đẹp cuộc đua nước rút của mình với sinh vật kia. Trên bờ sông lút cỏ, con vật ném vào tôi cái nhìn thù địch.
Nhưng giờ đây, khi bản thân đang dập dềnh giữa dòng nước, tôi không có lí do gì để sợ nó nữa. Cố gắng điều hoà cơ thể bằng những nhịp thở sâu, tôi thò tay vào chiếc túi đeo bên hông – một chiếc túi “xịn” so với tấm ga trải giường trước kia. Trong túi, vật hình hộp vẫn an toàn tuyệt đối. Tôi đã làm một cuộc hành trình dài đầy hiểm nguy chỉ vì nó, và thật vô nghĩa nếu nó bị huỷ hoại.
Dòng nước cứ lững lờ trôi, đẩy chiếc bè xuôi về hạ lưu. Qua vài khúc ngoặt nữa, con sông sẽ đi qua một cái eo nhỏ ăn sâu vào vách đá. Dòng chảy sẽ đánh dạt chiếc bè vào đó. Và chuyến thuỷ trình của tôi cũng đi đến hồi kết. Nhưng vào lúc này đây, tôi có quyền nghỉ ngơi chút đỉnh.
Bầu trời trên đầu tôi cao vòi vọi, màu xám xanh tĩnh lặng, thứ tĩnh lặng hoà trộn hoàn hảo với màu xanh lục bủa vây mặt đất. Đây là thế giới mà tôi bị bỏ lại, xanh tươi, đầy sức sống, nhưng không còn chào đón giống loài chúng tôi – những kẻ đã từng là niềm kiêu hãnh của hành tinh này.
Tôi về đến nơi trú ẩn an toàn khi trời vừa sập tối. “Nơi trú ẩn an toàn” – giống như tên gọi của nó, là một tàn tích còn sót lại sau Biến cố lớn – sự kiện đã khiến toàn bộ cư dân phải di cư khỏi hành tinh này. “Toàn bộ”, tức là những người còn sống sót và khoẻ mạnh. Phần còn lại, tôi không muốn nhắc đến họ, đôi lúc xuất hiện dọc hành trình của tôi, trong hình dạng những bộ xương bất động, hoặc tệ hơn thế.
Tôi kéo cánh cửa che kín lối ra vào, lần mò trong bóng tối trước khi  nhóm được lửa. Sau khi rời khỏi Căn phòng chắp vá, đây là mái ấm mới của tôi. Chỉ khác là giờ đây tôi hoàn toàn cô độc. Chiếc bồn tắm và ánh điện vàng ủng trong căn phòng ẩm thấp giờ hoá ra là thứ tiện nghi xa xỉ mà tôi vĩnh viễn đã đánh mất, cũng như đã đánh mất người bạn đồng hành của mình. Tuy nhiên, suy nghĩ về việc một ngày nào đó sẽ tìm lại được Z khiến tôi cảm thấy được an ủi rất nhiều.
Sau khi ra khỏi Căn phòng chắp vá, điều tuyệt diệu nhất tôi từng có được, chính là hi vọng được gặp lại Z.
Trong vòng hai tuần đầu từ khi ra khỏi nơi ở cũ, cơ thể, và cả tâm hồn tôi dường như rơi vào một trạng thái không cảm xúc. Mọi giác quan và xúc cảm của tôi đều tê liệt bởi nỗi cô đơn, bởi ham muốn được trò chuyện… và trên hết, là nỗi tuyệt vọng khi nghĩ rằng Z đã chết. Tôi tìm thấy túi đồ và những món vũ khí của Z rơi rớt không xa cách lối vào căn hầm kia. Tất cả đều nguyên vẹn, không có dấu hiện của một cuộc chiến khốc liệt, mà phần thua thuộc về chủ nhân những món đồ. Chúng nằm ở đó, được sắp xếp một cách ngay ngắn, bên cạnh đôi ủng mơ ước của tôi. Z sẽ đi được bao xa nếu bỏ lại những món đồ ấy, và trên hết, là đôi ủng kiểu nhà binh của cô?
Tôi đã đi tìm Z cho tới hết mùa đông năm ấy, vẫn ở trong Căn phòng chắp vá, như níu kéo một thứ hi vọng mong manh về sự trở lại không tưởng của chị. Cho tới mùa xuân sang năm, khi bên ngoài căn hầm, khung cảnh thay đổi đến chóng mặt, từ một màu xám tro vô sắc trở thành vô vàn sắc xanh rực rỡ. Nhưng cũng giống như mùa đông dài trước đó, không có một âm thanh nào lọt được đến đôi tai tôi. Thế giới mới là một tấm thảm xanh lục tĩnh lặng.
Hi vọng đến với tôi vào một ngày, khi lẫn lộn trong những ghi chép rất dài trong cuốn sổ nhật kí – có lẽ cuốn sổ được Z tìm thấy đâu đó giữa những cuộc phiêu lưu, tôi tìm thấy những dòng chữ nói về một thứ ánh sáng xanh rọi xuống từ trên trời, hút lấy những sinh vật sống bên trong nó. Vài trang bị xé bỏ. Và sau đó là nét chữ to cộ thân quen của Z. Nét chữ như… cố tình để tôi đọc được.
Phần Z viết không nhiều, có lẽ vì chị buộc phải ghi chép lại chúng khi nhận thấy nguy hiểm đã gần kề.
Một vài lời chỉ dẫn ngắn gọn, dẫn tôi đến một nơi lưu trữ, một thứ gì đó gọi là “Thư viện” nằm vắt qua một con sông xa về phía nam của căn hầm. Phần còn lại, Z nói về việc tia sáng xanh lại xuất hiện, và chị dường như đã bất lực trong việc chạy trốn nó…
Tôi đã tuân theo mọi chỉ dẫn của Z. Thời gian cứ thấm thoắt trôi đi, và giờ đây, tôi đã đi vừa đôi ủng kiểu nhà binh mà chị để lại. Tôi đã đi vừa đôi giầy mà tôi khao khát năm xưa.
Thứ tôi mang về ngày hôm nay từ thư viện ấy, là một chiếc hộp gỗ. Bên trong hộp là tập tài liệu chép tay của một người có tên Zerphy1123 – cái tên mà khi đọc lên, nó gợi cho tôi cảm giác thân thuộc, như thể đang phát âm cái tên của Z.
Tháo giày, chui vào trong chăn, nhấm nháp vài thứ quả hái lượm được trong vườn – khu vườn chính tay tôi gây dựng một năm về trước, tôi bắt đầu đọc những tài liệu kia.


                                          Photo credit to Laura Makabresku (https://www.facebook.com/makabresku.fairy.tales)


2

“Tôi là Zerphy1123, người chép sử. Tôi từ chối quyền di cư lên hành tinh Celestia và nhận nhiệm vụ ghi chép lại sự hồi phục của Tinh Cầu sau sự kiện Biến cố lớn đã làm biến đổi phần lớn hành tinh này”
.
.
.
.
Tinh Cầu, ngày thứ… sau Biến cố lớn.
Tôi tìm thấy một cái kén trôi dạt trên biển sông. Cái kén làm bằng kim loại và nhựa dẻo, đồng nghĩa với việc nó là sản phẩm nhân tạo. Không có thông tin tham khảo để xác định nguồn gốc cái kén. Tuy nhiên ban đầu nhận định, bên trong cái kén là một sinh vật sống. Tôi không phải người duy nhất tồn tại trên hành tinh này…”
Một cơn gió lạnh thổi qua khe hở giữa những đoạn dây leo ken dày trên cái trần nhà nát banh và mất mái, làm ngọn lửa nhóm giữa những phiến đá quây tròn nhảy múa dữ dội. Tôi bỏ rơi tập tài liệu, nín thờ, nắm lấy chiếc rìu dựng cạnh bên. Sự cô độc đồng nghĩa với cảnh giác cao độ trước bất kể động tĩnh nào, dù là nhỏ nhất. Tôi đã mạnh lên nhiều, nhưng không vì thế mà tôi an toàn.
Thời gian trôi đi. Không có dấu hiệu của nguy hiểm. Những thớ cơ căng cứng dần thả lỏng. Cơ thể tôi quay về trạng thái nghỉ. Lại nằm vật ra ghế - chiếc ghế dài đã bục chỉ, thủng lỗ chỗ, lòi cả lò xo ra ngoài, nhưng không vì thế mà bớt tiện nghi. Tôi cầm lấy tập tài liệu, đọc tiếp vài trang trước khi chìm vào giấc ngủ.
Đêm ấy, tôi có một giấc mơ kì lạ, về một khoảng không vô tận màu xanh đen, lấp lánh những hạt ánh sáng nhiều màu. Tôi đang nằm trong một cái kén, trôi dạt. Ở khoé mắt tôi, hình ảnh về một công trình đồ sộ hình trứng đang mờ nhạt dần… Tôi biết mình bị lưu đày, vĩnh viễn.
Bình minh đánh thức tôi bằng những tia nắng màu vàng chanh xuyên qua những kẽ hở trên trần nhà, xuyên qua khoảng không với những hạt bụi trắng lơ lửng, cuối cùng rơi xuống mí mắt tôi. Tôi khẽ cựa quậy. Chiếc ghế tuy là một món đồ tiện dụng, nhưng không phải vì thế nó không khiến những đầu ngón chân của tôi tê dại vào mỗi buổi sáng sớm. Nằm im trên giường cho tới khi những đầu ngón chân có lại cảm giác, tôi sửa soạn cho một cuộc hành trình mới.
Vẫn là những món đồ đã quá quen thuộc: chiếc rìu với phần lưỡi đã sứt mẻ đôi chỗ, túi đeo qua vai, những thứ vũ khí Z bỏ lại, chiếc khăn xanh làm từ ga trải giường – vật hoá ra vô cùng hữu dụng trong việc nguỵ trang giữa rừng, và đôi giày kiểu nhà binh của Z.
Công việc hôm nay không có gì nhiều. Đi lên khu rừng phía bắc. Một cuộc tản bộ và tìm kiếm những manh mối vô hình. Tôi cần những ví dụ trực quan cho những điều mình đã đọc được.
Theo những ghi chép của người có tên Zerphy, chiếc kén đã rơi xuống khu rừng ấy.
Vung tay kéo mạnh cánh cửa kim loại – cánh cửa mà giờ chỉ dùng một tay tôi cũng có thể đóng lại, tôi bước vào khu vườn của mình.
“Vườn” là một danh từ dùng để chỉ nơi mà con người trồng, chăm sóc và thu hoạch rau quả hay hoa màu. Cuốn sách của tôi nói như thế. Tôi đã mang về khu vườn của mình một vài bụi cây có màu sặc sỡ, sau khi gần như chắc chắn rằng chúng không nguy hiểm; một vài cây hoa, và những cái cây lớn hơn cho thứ quả ăn được. Một trong số chúng khá giống với hình vẽ quả đào trong sách. Vậy là tôi đã có khu vườn và một cây đào.
Tôi hái một vài trái đào trên cây, chúng chín mọng, thơm phức với lớp vỏ mịn màu hồng hồng xinh xắn. Bỏ chùm quả vào trong túi, tôi đã sẵn sàng để lên đường.
Giữa nơi tôi ở và khu rừng là một cánh đồng dương xỉ rộng lớn. Những cây dương xỉ cao ngang tầm thân tôi, với cành lá toả rộng, loà xoà. Giữa những bụi dương xỉ ấy là những chiếc lá non cuộn tròn với lớp lông mịn mọng nước. Hoàn toàn có thể ăn những chiếc lá non ấy thay cho uống nước, trừ việc mùi vị của chúng thật tệ hại. Tôi không nghĩ mình cần dùng đến cách tiếp nước ấy khi mà tôi có cả một biển sông ở bên cạnh. Cũng đã vài lần tôi bắt được cá từ dưới biển sông. Nhưng đó là chuyện hi hữu và dường như không cần thiết, bởi cơ thể tôi vẫn vận hành tốt khi nạp năng lượng từ những thứ quả trong vườn.
Sau khi băng qua cánh đồng dương xỉ vẫn còn ướt đẫm sương, tôi tiến vào khu rừng đã hiện ra trước mắt