Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

2001 A Space Odyssey - Arthur C. Clarke

Lời tựa
















Phía sau lưng mỗi người đang sống tồn tại những hồn ma đói khát – những hồn ma sinh ra từ con số áp đảo những người đã chết với những người đang sống. Từ thuở bình minh của thời gian, có khoảng một trăm tỉ cá thể loài người đã bước đi trên bề mặt tinh cầu mang tên Trái Đất này.

Giờ, đó là một con số thú vị, trong khuôn khổ một sự trùng hợp kì quặc,khi cũng tồn tại xấp xỉ con số ấy những vì sao trên bầu trời vũ trụ của chúng ta, nằm gọn trong lòng dải Ngân Hà. Vậy nên, với mỗi con người từng tồn tại, vũ trụ vô hạn thắp sáng tặng họ một ngôi sao.

Nhưng tất cả những ngôi sao nhỏ bé ấy đều là một mặt trời, thường ở xa hơn, rực rỡ và huy hoàng hơn nhiều lần ngôi sao nhỏ bé và gần bên mà chúng ta gọi là Mặt Trời. Và rất nhiều, có lẽ là tất cả - những mặt trời ngoại lai ấy có những hành tinh xoay quanh mình nó. Vì thế gần như chắc chắn rằng có đủ đất đai trên bầu trời để chia đều cho mỗi cá thể loài người, bắt đầu từ con vượn người đầu tiên, một khoảng sở hữu của riêng họ, một thiên đường – hoặc địa ngục, có kích thước bằng cả địa cầu.

Có bao nhiêu trong số những thiên đường hay địa ngục tiềm năng ấy đã có giống loài cư trú? Và họ là ai? Chúng ta không có bất kì manh mối nào để đoán biết. Một hành tinh giống vậy, ở gần chúng ta nhất cũng hàng triệu lần xa cách hơn Hoả tinh hay Kim tinh, đặt vào bàn tay những thế hệ kế tiếp của chúng ta cơ hội được khám phá. Nhưng những ranh giới về khoảng cách ấy đang ngày một ngắn lại. Một ngày kia, chúng ta có thể sẽ bắt gặp những người đồng cấp, hoặc vị chủ nhân vĩ đại của mình, đâu đó giữa những vì sao.

Loài người vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với góc nhìn mới mẻ này. Một vài vẫn nuôi hi vọng ngày ấy không bao giờ tới. Sự tăng lên về số lượng, dù sao đi nữa, đang đặt ra câu hỏi: “Tại sao một cuộc gặp gỡ như vậy vẫn chưa diễn ra, khi chúng ta đã sẵn sàng để tiến vào không gian?”

Quả thật, tại sao không? Cuốn sách này là một câu trả lời khả thi cho tất cả những câu hỏi chính đáng ấy. Nhưng xin hãy ghi nhớ: đây đơn thuần chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng.

Sự thật, luôn luôn, khác xa với những tưởng tượng của chúng ta.

Arthur C. Clarke
Quacakidieu dịch



Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

[Dịch] Fearless - Cornelia Funke (Chương 2)







Chương II -  THẾ GIỚI NGƯỢC

Phòng đấu giá nằm ở tầng thứ 13. Tường ốp gỗ, mười hai hàng ghế, một người đàn ông đứng ở ngưỡng cửa tích vào tên của Jacob trong một bản danh sách rất dài với một nụ cười lơ đãng. Jacob nhận cuốn catalogue người đàn ông đưa mình và dừng lại ở một vị trí gần cửa sổ. Phía bên ngoài, những khối nhà đan xen vào nhau như cánh rừng rậm rạp, xa khỏi những toà nhà ấy, giống như những mặt gương sóng sánh, là hồ Lớn. Anh mới từ New York đặt chân đến Chicago vào buổi sáng hôm ấy, một khoảng cách đáng kể sẽ tốn đến một tuần di chuyển bằng xe ngựa. Bên dưới anh, ánh mặt trời phản chiếu lấp lánh từ muôn vạn những ô kính cửa và mái nhà mạ kim loại. Nếu xét về vẻ đẹp, thì thế giới này sẽ dễ dàng cạnh tranh với một thế giới khác bên kia mặt gương, và Jacob ngay lập tức thấy nhớ nhà.
Anh ngồi xuống một cái ghế và bắt đầu quan sát những khuôn mặt xung quanh. Rất nhiều trong số đó gợi cho anh cảm giác thân thuộc: người định giá đồ cổ, người quản lý viện bảo tàng, nhà sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật. Cũng giống như anh, họ đều là những kẻ săn kho báu, ngay cả khi những kho báu của thế giới này không chứa đựng ma thuật giúp họ sống trường sinh hay trẻ đẹp.
Cái chai, vật mà Jacob theo dấu tới tận căn phòng này, được liệt kê trong cuốn catalogue vật phẩm đấu giá, kẹt giữa một chiếc ấm pha trà Trung Hoa và chiếc trống lắc bằng bạc từng thuộc quyền sở hữu của con trai một vị vua Anh quốc. Đứng giữa những món đồ khác, cái chai chỉ giống như một vật vô thưởng vô phạt, điều này khiến Jacob dấy lên hi vọng nó sẽ không lọt vào con mắt của bất kì một người đưa giá nào khác. Nước thuỷ tinh sẫm màu của cái chai được bảo vệ bởi một chiếc túi da có vẻ được may thủ công, cổ chai được niêm phong bằng sáp.
CHAI CỔ CÓ NGUỒN GỐC TỪ SCANDINAVIAN, ĐẦU THẾ KỈ THỨ 13 – đó là những gì người ta đã mô tả bên dưới bức ảnh chụp cái chai trong cuốn catalogue. Chính xác từng từ với phần giới thiệu của Jacob khi anh bán chiếc bình này cho một người thu mua cổ vật ở Luân Đôn. Ngày đó, anh chỉ việc bán chiếc bình đi là một ý hay để giải phóng chiếc bình và thứ mà nó đang giam giữ. Ở phía bên kia của chiếc gương, trả tự do cho thứ ở trong chiếc bình là một việc nguy hiểm chết người, nhưng ở thế giới này, cái chai chỉ là cái một cái chai vô hại chứa không khí, và vị thần kia không khác gì một đám không khí vô định hình nằm giữa lớp vỏ thuỷ tinh nâu sẫm.
Cái chai đã qua tay rất nhiều vị chủ nhân từ khi Jacob đem bán nó. Phải mất gần một tháng anh mới lần ra được tung tích của nó – anh không còn nhiều thời gian để phung phí. Trái táo trị thương, suối Trường Xuân… anh đã tiêu tốn nhiều tháng trời để tìm kiếm những mục tiêu không khả dụng. Cái chết vẫn đang đè nặng lồng ngực anh. Đã đến lúc anh phải thử một phương pháp mạo hiểm.
Vết sẹo hình bướm ma phía trên trái tim anh, ngày qua ngày càng thêm đậm nét – đó là sự trừng phạt của Hắc Tiên dành cho những kẻ dám thốt ra tên nàng. Em gái của Hắc Tiên đã thì thầm vào tai Jacob tên của chị gái mình giữa những chiếc hôn. Chưa có người đàn ông nào phải chịu sự hành quyết dịu dàng hơn thế. Bị bội tình. Đường viền màu đen tạo thành hình con bướm ma là gợi nhắc đến tội ác đã gây ra cái chết của anh.
Người thu mua đồ cổ đã được Jacob bán cho một chiếc bình thuỷ tinh được tiên chế tác nhiều năm về trước mỉm cười với anh từ hàng ghế đầu tiên (Cô ta đã đổi lấy nó bằng pha lê Ba Tư). Jacob đã mang rất nhiều báu vật qua tấm gương, bán lấy tiền chi trả học phí cho Will hay trả tiền khám bệnh cho mẹ. Tất nhiên, không một khách hàng nào của anh mảy may nghi ngờ việc anh bán cho họ món đồ từ thế giới khác.
Jacob liếc đồng hồ và bồn chồn nhìn về phía người điều khiển cuộc đấu giá. Bỏ qua món đồ đó đi! Thời gian của anh đang cạn. Anh thậm chí còn không biết mình còn trong tay bao nhiêu thời gian. Nửa năm, có lẽ ít hơn…
Cái ấm trà hoàng gia được bán với một mức giá cao đến kì cục, nhưng, đúng như Jacob mong đợi, cái chai không tạo được hứng thú cho những người trả giá khi nó được bày trên bàn. Jacob gần như chắc chắn anh sẽ là người ra giá duy nhất, cho tới khi một cánh tay đột ngột giơ lên cách sau anh vài dãy ghế ngồi.
Người ra giá còn lại có dáng vẻ nhỏ thó của một đứa trẻ. Số kim cương trên những ngón tay ngắn của gã chắc chắn đáng giá hơn tất cả những món đồ được đem đấu giá hôm nay cộng lại. Máu tóc ngắn của gã ta đen kịt như lông quạ, thế nhưng trái ngược với mái tóc trẻ trung lại là khuôn mặt già nua cằn cỗi. Và nụ cười mà gã ném cho Jacob ngầm ý gã ta biết rất nhiều.
Vô ích thôi!
Jacob đã bán được một vốc đầy tiền xu bằng vàng để chuẩn bị cho buổi đấu giá này. Những cuộn chi phiếu anh thu về từ đống xu ấy có vẻ như nhiều hơn rất nhiều so với những gì anh tưởng tượng. Ban đầu, Jacob không dự định tiêu nhiều tiền đến như vậy cho cái chai. Thế nhưng mỗi khi anh nâng mức giá lên, thì người lạ mặt cũng lặp lại hành đồng tương tự, và Jacob cảm thấy tim mình đập những nhịp giận dữ hơn theo mỗi con số mà người điều khiển cuộc đấu giá đưa ra. Một đợt sóng xì xào dâng lên khắp căn phòng khi giá của chai đã đạt đến một con số tương đương với giá của cái bình trà hoàng gia lúc trước. Thêm một người ra giá nữa tham gia vào cuộc chạy đua, không giúp được gì nhiều ngoài việc khiến giá bán chiếc lọ vọt lên cao hơn lúc trước.
Bỏ cuộc đi, Jacob!
Rồi sao nữa? Anh không có bất kì manh mối gì về thứ mình đang kiếm tìm, ngay cả việc nó đang nằm ở thế giới này, hay vẫn còn lưu lạc ở thế giới bên kia. Những ngón tay Jacob vô thức tìm kiếm chiếc khăn mùi soa bằng vàng nhét trong túi. Nhưng ở đây, ma thuật của chiếc khăn hoàn toàn vô hiệu, cũng giống như sức mạnh của sinh vật bị nhốt trong cái chai kia. Mặc kệ đi, Jacob. Ngay khi họ nhận ra mày không đủ khả năng chi trả cho món đồ, thì mày đã cao chạy xa bay về phía bên kia tấm gương rồi.
Cánh tay Jacob lại giơ lên một lần nữa, dù cái giá mà người điều khiển cuộc đấu giá đưa ra làm dạ dày anh quặn lên. Một cái giá trên trời, ngay cả khi nó dùng để đổi lấy tính mạng của chính anh. Jacob liếc mắt về phía đối thủ của mình. Đôi mắt đáp trả ánh nhìn của anh có màu lá cây, như nền cỏ mới cắt. Gã đàn ông nhỏ thó đưa tay chỉnh lại cà vạt và tặng Jacob thêm một nụ cười, và bàn tay đầy nhẫn của hắn hạ xuống.
Chiếc búa của người điều khiển cuộc đấu giá nện xuống, và Jacob cảm thấy cơn chóng mặt hoà cùng cảm giác nhẹ nhõm phần nào khi anh lách qua lối đi giữa những hàng ghế. Một nhà sưu tập ngồi ở hàng ghế đầu tiên đã trả mười ngàn đô la cho cái trống lắc bằng bạc. Một kho báu, ở cả hai phía của chiếc gương.
Nhân viên thu ngân đang toát mồ hôi đầm đìa bên trong chiếc áo khoác màu đen, và khuôn mặt xanh xao của cô nàng thì rõ ràng trắng bệch những phấn.
Jacob tặng người thu ngân một nụ cười chiến thắng mãn nguyện khi anh đẩy chồng tiền về phía cô. “Tôi hi vọng đây sẽ là một khoản ứng trước được chấp nhận?”
Anh bỏ thêm ba đồng vàng – một khoản lót tay phổ biến ở thế giới bên này. Hầu hết những người đấu giá thường cho anh là mù dở khi không hề biết giá trị của những đồng tiền cổ này, và anh luôn luôn phải chuẩn bị sẵn những câu chuyện ngớ ngẩn để lấp liếm mỗi khi người ta gặng hỏi anh về bức chân dung đúc trên mặt đồng tiền. Nhân viên thu ngân ướt đẫm mồ hôi, dù gì đi nữa, nhìn ba đồng tiền với vẻ nghi ngờ rồi cất tiếng gọi một người nhân viên điều khiển cuộc đấu giá.
Cái bình đang ở cách anh hai bước chân, hoàn toàn không được bảo vệ, cũng với những món hàng đã được bán khác. Ngay cả từ khoảng cách này, lớp thuỷ tinh mờ vẫn không hé lộ gì nhiều về sinh vật đang bị nhốt bên trong. Jacob cảm thấy một chút ham muốn nắm lấy cái bình, mặc cho những người lính gác đang đứng hai bên cửa. Nhưng một tiếng ho khẽ đã xen vào dòng duy nghĩ liều lĩnh kia.
“Những đồng tiền đúc khá thú vị,… ngài… Xin lỗi, tên ngài là gì?”
Đôi mắt màu lá cây. Đối thủ trong cuộc đấu giá ban nãy của Jacob chạm vào vai anh. Tai bên trái của gã có đeo một viên hồng ngọc nhỏ.
“Reckless. Jacob Reckless.”
“Ồ, vâng.” – Người lạ mặt thò tay vào bên trong chiếc áo khoác cắt may vừa vặn, đoạn nhìn người điều khiển cuộc đấu giá với một nụ cười. “Tôi sẽ bảo đảm cho ông Reckless đây”, gã ta nói, đưa cho Jacob một tấm thẻ. Giọng người đàn ông nghe khô khan và thoáng chút ngữ điệu mà Jacob không thể nhận ra nó thuộc vùng miền nào.
Người điều khiển cuộc đấu giá gật đầu một cách cung kính.
“Sẽ theo ý ngài, ngài Earlking.” Rồi ông ta nhìn Jacob: “Ngài muốn chiếc bình được chuyển đến đâu?”
“Tôi sẽ trực tiếp mang đi ngay bây giờ!”
“Tất nhiên rồi”, Earlking mỉm cười. “Nó đã ở nhầm chỗ quá lâu rồi đúng không?”
Trước khi Jacob kịp trả lời, gã đàn ông nhỏ thó đã gật đầu nhanh chóng: “Xin hãy gửi lời hỏi thăm của tôi tới em trai anh”. “Tôi biết cậu ấy cũng như mẹ anh khá rõ.” Cùng với đó, gã quay người và biến mất giữa đám đông những người quần là áo lượt.
Jacob nhìn tấm thẻ trên tay. NOREBO JOHANN EARLKING. Và không gì cả.
Người điều khiển cuộc đấu giá trao vào tay anh chiếc bình.  

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

KẺ LẠ MẶT BÊN KIA DÒNG NƯỚC - Amelie Nothomb




Chúng ta không hiểu gì về bản thân mình. Chúng ta ảo tưởng chúng ta đã từng sống là chính mình, nhưng hoá ra “chính mình” chỉ là thứ hình ảnh phản chiếu ngược. Năm tháng qua đi càng nhiều, thì hiểu biết của chúng ta về cái con người ta gọi tên “chính mình” ấy càng vơi bớt.

Đấy rút cuộc không phải vấn đề. Đâu có gì sai khi ta sống cuộc đời của một kẻ xa lạ? Có lẽ nên diễn đạt vấn đề theo hướng này: hiểu bản thân mình, đổ bệnh bất thình lình.

Sự xung đột tầm thường này chẳng thể làm tôi bận tâm nếu như… nói thế nào nhỉ… Nếu như tôi không gặp Mr. Bernardin.

Tôi tự hỏi, mọi chuyện bắt đầu khi nào nhỉ? Giống như thể Cuộc chiến Trăm năm: có thể là bất kì trong số hàng tá ngày tháng đã đi qua. Có thể nói chính xác rằng mọi biến cố đã bắt đầu vào khoảng một năm trước, cũng có thể khẳng định thêm rằng mọi sự trở nên bung bét vào sáu tháng trước. Dù gì đi nữa, cũng chả sai khi nói rằng mọi thứ đã bắt đầu vào khoảng thời gian khi chúng tôi lấy nhau, vào 43 năm về trước. Nhưng sự thực thực sự, được khẳng định chắc nịch bằng mọi mức độ của ngôn từ, ngọn nguồn câu chuyện bắt đầu vào ngày sinh của tôi - sự kiện đã xảy ra vào 66 năm trước.

Thôi thì tôi sẽ chọn phương án đầu tiên: mọi chuyện bắt đầu bào khoảng một năm về trước.

…

Một vài ngôi nhà đưa ra yêu cầu. Giống với sự đàn áp nhiều hơn là định mệnh: bạn phải lòng nó ngay từ cái nhìn đầu tiên. Và bạn buộc phải sống trong lòng nó.

Khi ngày sinh nhật lần thứ 65 của tôi đến gần, Juliette và tôi đang trong giai đoạn tìm kiếm một ngôi nhà ở vùng nông thôn. Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi nhà này, và ngay lập tức cùng hiểu rằng đó chính là ngôi nhà dành cho mình. Và mặc kệ sự lười biếng của tôi dành cho những chữ cái in hoa, tôi vẫn buộc phải viết nó là Nhà. Tôi viết từ “Nhà” với chữ “N” in hoa, bởi đó là thứ chúng tôi không bao giờ rời bỏ, thứ đã ở đó và chờ đợi chúng tôi, và là thứ mà chúng tôi luôn chờ đợi.

Luôn luôn, vâng: kể từ khi Juliette và tôi trở thành chồng và vợ - một cách hợp pháp là 43 năm, và trên thực tế là 60 năm. Tôi và nàng học chung một lớp ở nhà trẻ. Chúng tôi cùng nhìn thấy nhau vào ngày đầu tiên đến trường, và lập tức phải lòng nhau. Từ ngày đó trở đi, tôi và nàng chưa bao giờ xa nhau.

Juliette luôn luôn là người vợ của tôi; nàng luôn là chị em của tôi, và cả con gái của tôi nữa – dù cho chúng tôi hơn kém nhau một tuổi. Đó là lí do vì sao chúng tôi không có con. Tôi không cần thêm bất kì ai khác trong cuộc đời mình. Đơn giản, vì Juliette là tất cả của tôi.

Tôi đã từng làm giáo viên trung học, bộ môn tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Tôi yêu công việc ấy và thậm chí còn tạo được mối quan hệ tốt đẹp với một vài học trò. Thế nhưng, tôi mỏi mòn chờ ngày về hưu như thể người thần bí chờ đợi cái chết.

Sự so sánh của tôi chỉ là vô thưởng vô phạt. Juliette và tôi luôn khao khát được giải phóng bản thân khỏi những chuyện cơm áo hàng ngày. Trường học, công việc, các sự kiện xã hội – ngay từ hình thái đơn giản nhất của chúng, là quá sức chịu đựng của chúng tôi. Ngay cả đám cưới của chúng tôi cũng chỉ giống như một thủ tục.

Juliette và tôi muốn bước sang tuổi 65, chúng tôi muốn bỏ lại thế giới đằng sau – điều mà cả tôi và nàng đều cho rằng đó là một sự phung phí thời gian. Dù thành phố đã gắn bó với chúng tôi từ khi sinh ra, nhưng tôi và nàng đều muốn sống ở nông thôn, vì tình yêu thiên nhiên thì ít mà vì khao khát chốn tĩnh mịch thì nhiều – sự khao khát giày vò và mãnh liệt tựa cơn đói, cơn khát, và sự ghê tởm.

Khi chúng tôi nhìn thấy Nhà, chúng tôi có một ấn tượng tuyệt vời: đây là nơi mà chúng tôi khao khát hơn tất cả mọi thứ kể từ thời thơ ấu. Nếu như chúng tôi bạo gan tưởng tượng về nó, chúng tôi sẽ tưởng tượng về một nơi quang đãng, giống như nơi này, gần sông, với ngôi nhà này – Nhà – xinh xắn, ẩn dật, dây tử đằng leo kín các mặt tường.

Xa khoảng 4 dặm là Mauves, ngôi làng, nơi chúng tôi có thể tìm mua mọi thứ cần thiết. Bờ sông bên kia là một ngôi nhà khác, không thể nhìn rõ. Chủ mảnh đất nói với chúng tôi đó là ngôi nhà của một vị bác sĩ. Còn gì có thể khiến chúng tôi yên tâm hơn được nữa: Juliette và tôi rút lui khỏi thế giới, nhưng 30 yard kể từ cơ ngơi của chúng tôi là nơi ở của một vị bác sĩ!

Chúng tôi đã không phân vân dù chỉ một khoảnh khắc. Trong một giờ đồng hồ, ngôi nhà trở thành Nhà. Nó không hề đắt, lại không tốn công sang sửa. Cứ như thể vận may đã nhúng tay vào vụ mua bán này của chúng tôi, không còn nghi ngờ gì nữa.


…

(còn tiếp)

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

[Dịch] Fearless - Cornelia Funke (Chương 1)






1.      CHỜ ĐỢI

Anh ấy vẫn chưa hề quay lại.
“Anh sẽ không ở đó lâu đâu.” Cáo vuốt nước mưa trên mặt. Đối với Jacob, câu nói này có thể mang bất cứ ý nghĩa nào. Đôi khi anh ấy bỏ đi khoảng vài tuần, lúc khác thậm chí tới cả vài tháng.
Khu thành cổ đổ nát vẫn giữ nguyên dáng vẻ điêu tàn, và sự im lặng nằm kẹt giữa những bức tường cháy nham nhở khiến Cáo rùng mình, giống như cơn mưa ngoài kia. Làn da của con người quá vụng về trong việc giữ nhiệt. Giờ đây Cáo hiếm khi khoác lên người bộ lông quen thuộc. Tất cả cũng vì cô đang ngày càng bắt đầu cảm nhận rõ ràng việc bộ lông đã đánh cắp thời gian tuổi trẻ của mình như thế nào. Không cần đến sự nhắc nhở của Jacob, Cáo tự mình nhận ra điều ấy.
Anh đã ôm Cáo thật chặt, thật gần trước khi ra đi, như thể bằng cái ôm ấy, Jacob muốn mang hơi ấm của Cáo bên mình trong cuộc hành trình quay lại thế giới mà ở đó anh đã sinh ra. Có điều gì đó làm anh hoảng sợ, dù anh có cố tình phủ nhận nó như một lẽ tất nhiên. Anh vẫn là chú bé nghĩ rằng mình có thể chạy thoát khỏi cái bóng của mình.
Họ đã di chuyển ngược về phương nam, tới vùng Sveriga và Norga, nơi mà cho tới tận ngày hôm nay, những khu rừng vẫn bị chôn vùi trong biển tuyết và những người thợ săn vẫn dồn ép đàn sói về phía làng mạc. Trước đó, hai người đã làm một cuộc hành trình dài về phương bắc, tới độ giờ đây đôi lúc Cáo vẫn cảm thấy cát sa mạc lạo xạo trong lót giày. Ngàn vạn dặm đường, rất nhiều những thành trì và vương quốc mà cô chưa từng nghe danh… tất cả chỉ để tìm kiếm một chiếc đồng hồ cát. Nhưng Cáo hiểu Jacob quá rõ để có thể tin vào câu chuyện ấy.
Dưới chân cô, bông hoa báo xuân dại đầu tiên đã hé nở giữa những phiến đá dẹt nằm rải rác. Cáo bứt một trong số những thân cành mảnh khảnh ấy, khiến giọt sương đọng trên cánh hoa trôi đi, hạt nước vẫn còn lạnh buốt. Đó là một mùa đông rất dài, Cáo vẫn còn có thể cảm thấy dư âm của những tháng vừa qua đọng lại như sương giá trên da mình. Có quá nhiều biến cố đã xảy ra kể từ mùa hè trước. Tất cả những lo lắng thống khổ dành cho em trai của Jacob, và thậm chí là cả anh. Quá nhiều sợ hãi. Quá nhiều yêu thương. Mọi thứ đều quá nhiều.
Cô cài đoá hoa màu vàng vào ve áo. Đôi tay… chúng được tạo ra cho cơ thể với làn da con người cóng lạnh này. Mỗi khi khoác bộ lông lên người, cũng là lúc Cáo mất đi cơ hội được cảm nhận thế giới thông qua những đầu ngón tay.
“Anh sẽ không ở lại đó lâu”.
Bằng một động tác lanh lẹ, cô vồ gọn một tên lùn đang nhét đôi bàn tay bé tin hin của mình trong túi áo khoác. Hắn ta chỉ chịu thả rơi đồng xu bằng vàng sau khi cô lắc gã như cái cách một con cáo cái vờn mồi. Tên trộm bé nhỏ cắn vào tay cô trước khi vùng bỏ chạy, miệng lầm bầm những lời chửi rủa. Jacob luôn nhét vào túi cô vài đồng tiền vàng trước mỗi lần anh ra đi. Anh không hề cân nhắc sự thật rằng giờ đây cô đã xoay sở khá tốt trong thế giới loài người – ngay cả khi không có anh.
Anh đang sợ hãi điều gì?
Cáo đã từng hỏi anh, sau nhiều ngày đi xe ngựa từ một ngôi làng hoang tàn sang tới ngôi làng kế tiếp, chỉ để cùng đứng dưới tán cây lựu khô cháy của một vị vua nào đó đã qua đời. Cô lại hỏi anh, khi Jacob đã say khướt suốt ba đêm liền sau khi họ tìm được một khu vườn cỏ mọc um tùm và một lòng giếng cạn.  “Chẳng xá gì. Đừng lo”. Một nụ hôn vào má và nụ cười bất cần mà Cáo chưa thấy lại ở anh từ thuở mười hai. “Chẳng xá gì…”
Cáo biết rằng anh đang nhớ em trai mình, nhưng dường như còn gì đó khác. Cáo ngước mắt lên nhìn toà tháp. Những tảng đá đã cháy thành than dường như đang thì thầm một cái tên. Clara. Có phải vậy?
Trái tim Cáo vẫn thắt lại mỗi khi nghĩ về dòng suối và hai xác chim sơn ca kia. Bàn tay Jacob lùa trong mái tóc Clara, môi anh gắn vào môi cô ta. Say đắm.
Có lẽ đó là lí do tại sao Cáo gần như đã quyết định sẽ đi theo anh – lần đầu tiên. Cô thậm chí đã theo chân Jacob lên tận đỉnh tháp, nhưng đứng trước gương thần, mọi sự can đảm trong cô đều tiêu biến. Chất thuỷ tinh của tấm gương thần đối với cô như băng đá, đủ sức làm đông cứng cả trái tim.
Cáo quay lưng đi khỏi toà tháp.
Jacob nhất định sẽ quay lại.
Anh luôn luôn quay trở lại.

Đọc tiếp:  Chương II - THẾ GIỚI NGƯỢC

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (2)

KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN

Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus



Nhấn vào đây để đọc từ chương 1 đến chương 3

4

Ban đầu, cảnh sát đến thăm gia đình mỗi ngày, ảnh của Laurie được đăng ở trang nhất mọi tớ báo ở New Jersey và New York. Ở nhà, với hai hàng nước mắt, Sarah nhìn thấy bố mẹ mình trên chương trình “Chào buổi sáng”, cầu xin những kẻ bắt cóc mang trả Laurie về cho họ.
Hàng tá người gọi điện tới và nói rằng họ đã nhìn thấy Laurie, nhưng không có một mang mối nào hữu ích. Cảnh sát đã hi vọng rằng đây là một vụ bắt cóc đòi tiền chuộc, nhưng không có một yêu cầu nào được đưa ra.
Mùa hè tới. Sarah chứng kiến khuôn mặt mẹ mình trở nên tiều tụy và hốc hác, cùng với đó là hình ảnh cha cô liên tục phải lục tìm lọ thuốc nitro-glycerin trong túi áo. Mỗi buổi sáng, họ đi đến buổi lễ lúc 7 giờ và cầu nguyện để Laurie được đưa trả về nhà. Mỗi đêm, Sarah thường tỉnh giấc để nghe thấy tiếng mẹ cô bé thổn thức, và tiếng cha cô an ủi vợ khi bản thân ông cũng đã kiệt sức. “Laurie được sinh ra đã là cả một phép màu. Hãy tin vào một phép màu khác sẽ mang con bé quay trở lại,” cô bé nghe tiếng bố nói.
Năm học mới lại bắt đầu. Sarah luôn là một học sinh xuất sắc. Cô mải mê với những cuốn sách, nhận ra rằng chỉ bằng việc học, cô mới có thể trốn thoát khỏi nỗi phiền muộn của bản thân. Bẩm sinh đã sở hữu vóc dáng của một vận động viên, cô bắt đầu học cách chơi golf và tennis. Sarah vẫn không nguôi nhớ mong người em gái, nỗi nhớ hiện hình trong những con đau tức. Cô tự hỏi liệu Chúa Trời có đang trừng phạt mình vì đã có lúc oán trách rằng tại sao mọi sự quan tâm đều được dành cho Laurie. Cô tự buộc tội mình vì ngày hôm đó đã đi dự sinh nhật và lờ đi việc Laurie không được phép ra ngoài một mình. Cô hứa rằng, nếu Chúa Trời mang Laurie trả lại cho họ, cô sẽ luôn luôn, luôn luôn chăm sóc cho em gái mình.

5
Mùa hè trôi qua. Gió bắt đầu lùa qua những khe nứt trên các bức tường. Laurie lúc nào cũng lạnh cóng. Một ngày kia, Opal trở về nhà với vài cái áo dài tay, quần bò yếm, và một cái áo khoác mùa đông. Chúng không đẹp như quần áo Laurie từng mặc. Khi trời ấm trở lại, chúng đưa cho Laurie những bộ quần áo khác, quần cộc, áo phông và dép sandal. Một mùa đông nữa lại trôi qua. Laurie ngắm nhìn những chiếc lá trên cái cây to trước nhà bung lộc, lớn lên, nhanh chóng phủ kín mọi cành nhánh.
Bic có một cái máy đánh chữ cũ đặt trong phòng ngủ. Cái máy tạo ra những tiếng lách cách rất to mà Laurie có thể nghe thấy khi đang lau bếp hay xem tivi. Tiếng lách cách đó là một âm thanh hạnh phúc. Nó cho Laurie biết tạm thời Bic không thèm bận tâm đến cô.
Một lúc lâu sau, Bic sẽ ra khỏi phòng ngủ, cầm theo một xấp giấy và bắt đầu đọc to chúng cho Laurie và Opal. Hắn luôn luôn gào tướng lên, cũng như luôn kết thúc bằng cùng một câu, “Hallelujah. Amen!”. Khi đã kết thúc bài đọc, Opal và Bic sẽ cùng nhau hát váng lên. Luyện tập, chúng gọi việc đó như vậy. Những bài ca về Chúa và con đường về nhà.
Nhà. Đó là từ mà giọng nói trong đầu con bé muốn Laurie không bao giờ nghĩ về nữa.
Laurie chưa bao giờ bắt gặp một ai khác. Chỉ có Bic và Opal. Và khi ra ngoài, chúng nhốt con bé dưới tầng hầm. Điều này xảy ra khá thường xuyên. Tầng hầm là một nơi vô cùng đáng sợ. Cửa sổ gần như được gắn trên trần nhà, và bị bít lại bằng những tấm ván. Một nơi đầy những cái bóng, đôi khi những cái bóng dường như còn di chuyển. Lần nào cũng vậy, Laurie cố gắng chìm vào giấc ngủ ngay trên cái đệm mà chúng bỏ lại trên sàn.
Bic và Opal gần như không bao giờ có bạn. Nếu như có ai đó đến chơi nhà, Laurie sẽ bị nhốt dưới tầng hầm, với cẳng chân bị xích vào ống nước. Như vậy con bé sẽ không thể trèo lên và đập cửa. “Và nếu mày dám mở mồm kêu cứu,” Bic đe dọa. “Thì mày sẽ gặp rắc rối lớn đấy, và dù gì đi nữa, chúng tao cũng chẳng thể nghe thấy tiếng mày.”
Sau mỗi lần đi ra ngoài, chúng thường mang tiền về. Đôi khi chẳng đáng là bao, đôi khi lại ra tấm ra món. Hầu hết là *quarters* và *dollar bills*.
Chúng để con bé đi ra sân sau cùng với chúng. Chúng chỉ cho con bé cách tưới rau trong vườn và nhặt trứng trong chuồng. Có một con gà con mới nở, chúng cho phép Laurie giữ nó làm vật nuôi. Laurie chơi đùa với con gà mỗi khi cô bé có cơ hội ra ngoài. Thỉnh thoảng, khi chúng nhốt con bé dưới tầng hầm và đi ra ngoài, chúng cho phép Laurie giữ con gà bên mình.
Cho tới một ngày tồi tệ nọ, khi Bic giết con gà.
Sáng sớm tinh mơ một ngày nọ, họ bắt đầu đóng gói đồ đạc – chỉ quần áo, tivi và cái máy đánh chữ của Bic. Bic và Opal vừa làm vừa hát rống lên, “Ha-lay-loo-ya.”
“Một trạm phát 15000 oát ở Ohio!” – Bic gào lên, “Bible Bell, chúng tao tới đây!”
Họ lái xe suốt hai tiếng đồng hồ. Rồi từ ghế sau, vật lộn giữa đám hành lí cũ kĩ, Laurie nghe thấy tiếng Opal nói, “Đến nhà hàng và đánh chén một bữa tối cho tử tế nào. Sẽ chẳng ai chú ý đến con bé đâu. Chúng có lí do gì để làm thế đâu?”
Bic nói, “Đúng đấy.” Sau đó hắn nhanh chóng nhìn Laurie, qua vai. “Opal sẽ gọi bánh mì kẹp và sữa cho mày. Đừng có dại mà bắt chuyện với bất kì ai, nghe chưa”
Ba người bước vào một chỗ với quầy bán hàng dài cùng rất nhiều bàn và ghế. Laurie đói tới độ con bé dường như nếm được cả vị của món thịt lợn hun khói mà người ta đang rán. Nhưng còn có cái gì đó rất khác. Con bé nhớ mang máng rằng nó đã từng ở một nơi như thế này, với những người khác. Một cơn nức nở không thể kiềm chế dâng lên trong cổ họng con bé. Bic đẩy nó từ đằng sau, hối thúc nó bám theo Opal, và con bé òa khóc. Con bé khóc to đến độ nó không thể thở được. Nó nhìn thấy cô gái ở quầy thu ngân đang nhìn mình chằm chằm. Bic tóm lấy con bé và đẩy nó về phía bãi để xe, Opal theo hắn sát gót.

Bic ném con bé vào ghế sau, rồi hắn và Opal vội vã lao lên ghế trước. Khi Opal đạp lên chân ga, Bic túm lấy con bé. Opal cố né tránh khi bàn tay lông lá vung qua lại ngang mặt ả. Nhưng Opal không hề cảm thấy đau đớn. Ả ta chỉ thấy thương hại cho đứa bé gái đang khóc ngằn ngặt phía sau xe.

(còn tiếp)