Hiển thị các bài đăng có nhãn Guillemo del Toro. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Guillemo del Toro. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

Dị chủng

Được ra mắt vào năm 2009, là sáng tác chung của bộ đôi tác giả Guilermo del Toro và Chuck Hogan, Dị chủng (tên gốc: The Strain) là tác phẩm mở đầu cho bộ ba tiểu thuyết về đề tài thảm họa hậu tận thế, cũng chính là cơn ác mộng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi bản năng sâu thẳm nhất của loài người - nỗi sợ bóng tối.



Một chiếc máy bay chở trên mình hơn hai trăm hành khách đột ngột "ngưng" hoạt động ngay trên đường băng chỉ tích tắc sau khi hạ cánh. Tất cả hệ thống điện đều bị ngắt, mọi phương tiện máy móc đều ngừng hoạt động. Chiếc máy bay vừa một phút trước còn chở đầy những con người đầy sức sống, bỗng chốc trở thành nấm mồ lạnh giá, khổng lồ, và ẩn chứa tai ương. Nó, giống như mọi điều xuất hiện trong cuốn sách này, đều là những biến cố xấu không tưởng đột ngột xảy ra ngay trước vạch đích của một hành trình tưởng như đã vô cùng trơn tru hoàn hảo.

Sẽ không sai nếu nói chiếc máy bay "chết" kia, các hành khách của nó, và từng nhân vật xuất hiện trong cuốn sách này, chính là những thể khả năng khác nhau của cùng một phép thử - liệu con người có đang đánh mất đi sự cảnh giác bản năng của mình? Trong một thế kỉ được phủ trong ánh sáng - cảm giác của an toàn, liệu con người có đang sao nhãng trước những hiểm nguy nguyên thủy, những thứ từng được họ đồng hóa với bóng đêm đầy tai ương và chết chóc? Liệu họ có quên đi rằng, bản thân mình cũng chỉ là một sự tồn tại trong chuỗi thức ăn thay vì vươn lên nắm quyền kiểm soát nó? Và cuối cùng, con người hiện đại nhạy bén đến đâu trong cuộc chiến bảo vệ giống nòi mình?

Ba câu hỏi tưởng như vô thưởng vô phạt trong những tình huồng đời thường lại trở thành yếu tố tiên quyết chí phối mạch tình tiết của Dị chủng. Quyền lực, tham vọng, lợi ích... có quá nhiều thứ gây ra sự sao nhãng cho một con người ở thì hiện tại. Hành động của họ bị chi phối bởi nhiều thiết chế xã hội hơn những người tổ tiên của mình với tiếng hú cảnh báo đồng loại mỗi khi nhận ra nguy hiểm. Sự huỷ diệt hàng loạt của một dịch bệnh chết người không thể nguy hiểm hơn sự hoài nghi của người dân dành cho chính phủ mà họ bầu ra; một kịch bản được dàn xếp và một ai đó bị buộc tội sẽ là phương pháp chữa trị hiệu quả hơn nhiều những cuộc điều tra hay biện pháp chống trả... đó là thế giới mà Erp và những người đồng nghiệp/đồng đội của anh phải đối mặt. Trận chiến của vị bác sĩ đến từ Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh không diễn ra trong chiếc máy bay như  hầm mộ khổng lồ cất giấu hơn 200 xác người đã chết, theo cách khó tin nhất từng được biết đến, mà là thế giới bên ngoài chiếc máy bay, với báo chí, với an nguy của cả một thành phố, và với cả những âm mưu của một tổ chức đang náu mình trong bóng tối, thỏa mãn quan sát khung cảnh đang chậm rãi bầy ra trước mắt.

Đó là phiên bản thế giới của Dị Chủng, một phiên bản chân thực được phản chiếu qua thế giới của những con quái vật hút máu với xúc tu màu đỏ rực gớm ghiếc.

Khác với những bộ truyện cùng đề tài, Dị chủng duy trì một lối kể nhẩn nha, chậm rãi tường thuật lại những sự kiện đứt quãng xảy ra trên một phạm vi rộng lớn của diện tích, và số lượng khổng lồ các nhân vật bên lề. Tất cả họ đều được quyền cất lên tiếng nói, và thông qua tiếng nói đó, họ thể hiện được mình: kẻ nhút nhát, kẻ cuồng tín, kẻ tự phụ, kẻ mù quáng... Họ có thể là bất kì ai, thậm chí có thể là cả người lạ mặt bạn chạm trán nơi góc phố. Họ chính là sự đa dạng của cuộc sống này, nhưng sau cùng, họ đều chia sẻ một giá trị bình đẳng - tất cả đều là con mồi yếu ớt dưới tay kẻ săn mồi khát máu. Sự đổ đồng giá trị ấy khiến người ta cuối cùng cũng phải đặt ra câu hỏi: vậy đâu mới là giá trị làm nên sự khác biệt giữa những con người - như trong tình huống này, quyết định việc họ sẽ sống hay chết, sẽ là kẻ chiến thắng vinh quang thay vì bị biến thành một trong hàng trăm con quái vật hút máu ẩn mình trong thành phố, chờ đợi cơ hội để quay trở về tấn công chính những người thân thiết của mình? Đáp án cho câu hỏi ấy chỉ nằm trong hai tiếng "bản năng". Bản năng sinh tồn, bản năng mách bảo họ tin vào điều đúng đắn, tinh vào những giá trị cần được bảo vệ. Bản năng ấy mang lại cho họ sức mạnh, giữ cho họ tránh xa hiểm nguy, hoặc nó cũng chính là thứ bùa hộ mạng, giúp họ trở về vẹn toàn sau những trận chiến.

Trong phần lớn thời lượng của Dị chủng, ma cà rồng được đề cập đến như một bầy đàn sinh vật nguy hiểm, lây lan với tốc độ chóng mặt thứ virus chết người khắp thành phố New York mà không thế lực nào có thể ngăn chặn được chúng trên quy mô lớn trừ ánh sáng mặt trời. Bầy đàn sinh vật ấy được mô tả ban đầu là một nhóm điên loạn vô tổ chức, bị chi phối bởi cơn khát máu, và không gì cả. Sự vô tổ chức, cùng số lượng không ngừng tăng lên sau mỗi đêm, cũng như cơn khát máu  không điểm dừng biến lũ ma cà rồng trong Dị chủng trở thành một cơn ác mộng, một thế lực phản diện thuần tuý dựa trên sức mạnh số đông để giành lấy thế thượng phong trước loài người. Và bởi ma cà rồng hành động theo bản năng, nên người đọc không hề cảm thấy khó chịu trước bức chân dung phản diện này. Chỉ cho đến khi quy mô của cuộc tàn sát được mở rộng hơn, với những mối quan hệ chồng chéo về lợi ích, những vấn đề thực sự mới bắt đầu xuất hiện - không phải vấn đề diễn ra trong câu chuyện, đó là thứ vấn đề "có gì đó không đúng" xảy ra khi bạn nhìn ngắm chân dung từng nhân vật.

Ông chủ tịch tập đoàn Stoneheart trong nửa cuối Dị chủng chính là nhân vật tạo cho người đọc cảm giác không ổn định từ đầu chí cuối. Là người đứng đầu tập đoàn Stoneheart, với một cơ thể ốm yếu, người đàn ông này sắm vai tay sai loài người làm việc cho chúa tể hung bạo. Nhưng khó có thể hiểu được mục đích mà người đàn ông này đang hướng tới là gì nếu chỉ quan sát riêng những phần có ông ta trong tổng chiều dài cuốn sách. Đặt giả thiết, nếu những gì người đàn ông này mong muốn là cuộc sống vĩnh hằng xa rời mọi đau đớn, thì rõ ràng ông ta không nên tìm đến một loài virus kí sinh sẽ huỷ hoại đến kiệt cùng cơ thể vật chủ của nó để cầu cứu. Còn ở một nhánh giả thiết khác, nếu người đàn ông này chỉ đơn giản là muốn nhìn ngắm cảnh thế giới này diệt vong cùng sự diệt vong của chính mình, thì có vẻ câu chuyện đang đi đúng hướng (nhưng rất tiếc, không phải hướng mà hai tác giả đang đi).

Song song với tuyến chuyện chính ở hiện tại, cuốn sách còn có một phần phụ lục giải thích về nguồn gốc của con ma cà rồng chúa. Phần truyện này đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ gốc gác các nhân vật quan trọng, nhưng một mặt khác, trong phút chốc, nó đã kéo người đọc quay trở lại thời của những cuộc diệt chủng người Do Thái diễn ra. Cuộc sống trong trại tập trung được mô tả trong những chương phụ lục, với những tên cai ngục hà khắc và không còn tính người, cũng chính là một hình ảnh bị bóp méo của những con ma cà rồng.Nhưng dù có nói gì đi nữa, bằng những chương phụ lục ấy, Dị chủng đã phần nào biến thành một cuốn sách viết về chiến tranh và những hệ luỵ của nó lên đời sống những con người.

Dị chủng kết thúc ở điểm vừa xinh sẽ là khởi đầu của một chương mới trong trận chiến chống lại loài ma cà rồng. Xét một cách tổng thể, đây là cuốn sách với những lựa chọn rất hiệu quả về góc nhìn, cách kể cũng như cách nhào nặn từng nhân vật đơn lẻ thành một đại diện tiêu biểu cho những tính cách đặc sắc của riêng họ, nghiên cứu sự tác động của tính cách ấy tới khả năng sống  sót của họ qua những trận chiến sinh tồn. Góc kể ấy cũng dã tạo ra cho người đọc một tác phẩm sci-fi quá ư tuyệt vời.

Tóm lại là: Bao giờ thì đến tập hai?

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

THE PAN’S LABYRINTH: Thế giới nào cho em?




Trong “The Pan’s Labyrinth”, Guillermo del Toro đang cố gắng kể lại một câu chuyện thần tiên mà phần hư thì ít, phần thực thì nhiều, đủ sức khiến cho trái tim người xem thắt lại khi cảnh cuối phim khép lại trên nền bài hát ru u buồn.

Vào năm 2011, tôi được xem “Wizard of the Oz” tại thư viện TPD (hồi ấy còn ở 22 Hai Bà Trưng). Tôi gần như ngay lập tức và tin rằng đó là bộ phim tuyệt nhất mình từng xem. Dù được làm từ trước chiến tranh thế giới thứ hai, được tô màu lại từ phim đen trắng, rồi bối cảnh toàn hoa nhựa… thì xứ Oz trong bộ phim ấy vẫn là một chốn thiên đường khiến tôi mê mẩn. Tôi yêu xứ Oz, yêu Dorothy, yêu cuộc phiêu lưu của cô, vì với tôi, những điều ấy giống như một lời tuyên bố, rằng thế giới thần tiên là có thật, những sinh vật kì bí, phù thủy và pháp sư, những phép màu… là có thật. Tôi tin vào “Wizard of the Oz”, như tin vào thế giới kì diệu của riêng mình.
Nhưng vào những ngày cuối mùa hạ của tuổi 22, giấc mơ về xứ Oz của tôi tan thành mây khói. Tôi mua được một DVD của “Phù thuỷ xứ Oz”, tất nhiên là đồ Tàu thôi, từ hàng đĩa Tràng Tiền (giờ đã không còn nữa). Đĩa phim có phần mở đầu dài hơn (không xuất hiện trong bản phim tôi được xem lúc trước), xuất hiện thêm cả những người giúp việc trong nông trại như một tấm gương phản chiếu lại những người bạn của Dorothy ở xứ Oz. Vài phút phim ngắn ngủi, nhưng lái câu chuyện theo một hướng khác đầy nghiệt ngã. Hóa ra cô bé Dorothy ấy, cũng giống như tôi, mãi mãi sống trong cái thế giới hoang tưởng của mình.
Theo một cách nào đấy, “The Pan’s Labyrinth” khiến tôi nhớ đến “Wizard of the Oz”. Cả Ofelia và Dorothy đều tin vào một xứ sở thần tiên diệu kì mà các cô mắt thấy tai nghe, nhưng cuối cùng, nơi chốn tưởng tượng ấy vẫn không thể tách khỏi hình ảnh chính thế giới nơi các em đang sống.
Trong số rất nhiều những bảng xếp hạng của mình, kênh WatchMojo đã hết lần này đến lần khác liệt kê “The Pan’s Labyrinth” vào danh sách Phim thiếu nhi nhưng không dành cho thiếu nhi, Những bộ phim thiếu nhi kinh dị nhất, Phim thiếu nhi nghiệt ngã nhất… Nhưng tôi thì lại nghĩ, đây chưa bao giờ là một bộ phim dành cho thiếu nhi. Tương tự như việc đây cũng chưa bao giờ là một bộ phim về những xứ sở diệu kì.
“The Pan’s Labyrinth” diễn ra tại Tây Ban Nha những năm 1944, khi cuộc chiến tranh dường như đã kết thúc, và quân đội tiếp tục những chiến dịch truy đuổi phiến quân đang trốn sâu trong rừng. Cô bé Ofelia chuyển đến sống trong một doanh trại quân đội nơi người chồng mới của mẹ Ofelia, cũng là cha đứa bé bà đang mang trong mình, là thủ lĩnh. Ngày đầu tiên đến với khu doanh trại, Ofelia đã tìm thấy một mê cung bỏ hoang sát bìa rừng. Mê cung đó là cánh cửa dẫn đến một thế giới diệu kì mà trong đó Ofelia là nàng công chúa vì trốn lên mặt đất mà phải chịu cảnh lưu đày trong kiếp người. Một vị thần đầu dê cho cô bé ba cơ hội thực hiện ba thử thách. Hoàn thành ba thử thách ấy, cô bé có thể quay về với phụ vương và mẫu hậu đang ngày đêm mong chờ.
Không phải một bộ phim dành cho thiếu nhi, cũng không phải một bộ phim làm về các xứ sở diệu kì, “The Pan’s Labyrinth” là câu chuyện về sự bất hạnh và nỗi đau bắt nguồn từ những điều đẹp đẽ. Lí tưởng là một điều đẹp đẽ, nhưng để đạt được nó, người ta buộc phải đấu tranh, hoà bình là một điều đẹp đẽ, nhưng cái giá phải trả cho nó là những cuộc chiến tranh – xâm lược và chống trả, thế giới kì diệu ngập tràn niềm vui và hạnh phúc là một điều đẹp đẽ, nhưng cô bé Ofelia phải đánh đổi nó bằng mọi thứ cô bé có được trong đôi bàn tay bé nhỏ của mình.
Đó là nhiều cuộc chiến, trên nhiều mặt trận, nhưng tựu chung lại đều bắt nguồn từ cuộc đối đầu lớn nhất giữa hai phe: quân chính phủ và phiến quân nổi loạn. Kẹt giữa hai phe xung đột ấy là vị bác sĩ, cô hầu gái Mercedes, Ofelia và người mẹ luôn đau yếu.
Người bác sĩ có lẽ là nhân vật tôi thích nhất bộ phim, bởi giữa những người đang cố tìm cách giết nhau, giữa hận thù và xung đột về tư tưởng, thì ông là người duy nhất liên kết họ bằng mối dây của sự sống. Sự chữa trị của ông là công bằng. Ông chữa trị nỗi đau về thể xác cho mọi người, không quan trọng phe phái. Ông lắng nghe nỗi đau của họ, chứ không lắng nghe những mệnh lệnh hay hăm dọa. Cũng chính người bác sĩ ấy đã nói: “Tuân lệnh là thứ dành cho những người nghe lời mà không cần thắc mắc. Thứ đó chỉ có ông mới làm được thôi, Đại úy”.
Vị bác sĩ làm tôi nhớ đến một nhân vật trong cuốn sách tên “Thảo nguyên đại bàng”. Trong cuốn sách, một ông lão đã cưỡng lại mệnh lệnh của quân xâm lược. Cụ bị phát xít bắn chết. Giây phút cuối cuộc đời cụ chỉ đơn giản là nằm co người lại trong tư thế yêu thích của mình như thể đang chìm vào giấc ngủ. Còn vị bác sĩ của tôi, ông chậm rãi tháo kính, đưa tay lên day quầng mắt mệt mỏi – như một phút ngơi nghỉ hiếm hoi giữa cuộc đời bận rộn. Cái chết không khiến ông sợ hãi, trái lại, nó reo rắc nỗi sợ hãi vào trái tim những kẻ đã nhẫn tâm giết hại ông.
Cha dượng của Ofelia – Vidal, kẻ đã xuống tay giết chết bác sĩ vì bất lực trước tinh thần không chịu khuất phục của ông, là một gã chỉ huy hung bạo và mù quáng. Ông ta bị ám ảnh về đứa con trai sinh ra chính ở nơi cha nó chiến đấu, đứa trẻ (dường như) sẽ làm rạng danh cha mình. Ông ta luôn giữ bên mình một chiếc đồng hồ bỏ túi với mặt đồng hồ bị đập vỡ. Chiếc đồng hồ sau là kỉ vật của người cha đã chết trong chiến trận. Người cha đập vỡ chiếc đồng hồ để con trai mình luôn nhớ đến thời khắc cha nó hi sinh, nhưng Vidal lại giữ cho chiếc đồng hồ ấy tiếp tục chạy, và một mực phủ nhận câu chuyện về người cha quá cố. Ông ta cố lờ đi thông điệp xuyên thời gian ấy, coi nó là vô nghĩa. Vidal vẫn cố giữ lại chiếc đồng hồ như một sự nhắc nhớ - có lẽ giống nhiều hơn với một lời cười nhạo chính cha của mình: “Tôi không cần phải nhớ đến cái chết của ông, nhưng tôi không bao giờ tha thứ cho nó”. Nhưng thời gian là một chuỗi lặp các sự kiện, đôi phần trong chuỗi lặp ấy là một trò đùa ác của định mệnh. Và Vidal chính là kẻ phải trả giá cho sự nhạo báng bằng việc một lần nữa lặp lại cái chết của chính cha mình.
Giữa cái khung cảnh điên khùng và hỗn loạn ấy, thế giới của Ofelia dường như là một nơi chốn bình yên bé nhỏ. Cô bé chìm sâu trong một thế giới diệu kì mà chỉ riêng cô nhìn thấy, chạm vào. Trong thế giới ấy, cô là một nàng công chúa thất lạc tìm về với gia đình. Cô bé mất đi người cha là thợ may trong thực tại, thì ở Vương quốc dưới lòng đất, cô có một người cha khác đang mong chờ. Người dẫn đường cho cô là một sinh vật gớm ghiếc nửa người nửa dê. Hắn trao cho cô một cuốn sách với những lời chỉ dẫn sẽ xuất hiện khi cần, và cô buộc phải làm theo nó để có cơ hội được trở về.
Và hãy tin khi tôi nói rằng, nếu nhìn thấy những “thử thách” ấy, bạn không bao giờ còn suy nghĩ “The Pan’s Labyrinth” là một bộ phim mang sắc màu cổ tích diệu kì.
Ba thử thách, ba tấm gương phản chiếu lại những sự kiện thực xảy ra tại trại lính: con cóc sống trong thân cây mục là hình ảnh phản chiếu của những phiến quân sống đời kham khổ thiếu thốn trên núi cao, chiến đấu cho lí tưởng; con quỷ ăn thịt trẻ con với đôi mắt nằm trong lòng bàn tay quờ quạng là bữa ăn tối với những quân nhân, mục sư, thị trưởng – những kẻ đứng đầu bộ máy chiến tranh. Và cuối cùng, thử thách hi sinh gắn với việc Ofelia sẽ chấp nhận hay từ bỏ người em trai của mình. Có quá nhiều những trùng hợp, quá nhiều những gợi ý mà cho đến phút cuối cùng, nó giết chết niềm tin của người xem vào một thế giới thần tiên mà Ofelia đang tìm đường đi đến. Chắc chắn sẽ có những lời van xin em dừng lại, nhưng rồi cũng sẽ có những lời xót xa thương một cô bé con bị loạn trí, mãi lang thang trong thế giới tưởng tượng của mình.
Những kẻ mang một niềm tin mù quáng thì rốt cuộc sẽ chết chìm trong niềm tin ấy. Chỉ tiếc rằng trong tấn bi kịch này, Ofelia và người cha dượng độc tài lại cùng là những kẻ mù quáng kia. Với Vidal, đó là cái giá phải trả, nhưng với Ofelia, đó lại là một cái giá quá đắt. Ofelia cuối cùng cũng quay trở về với Vương quốc dưới lòng đất, được Hoàng hậu với dung mạo giống hệt người mẹ quá cố dang tay đón chào… Nhưng tôi thì không giàu niềm tin vào thế giới huy hoàng tồn tại trong khoảnh khắc ấy. Tôi đứng về phía những người ở lại, phía cô hầu gái Mercedes khóc nấc lên bên cơ thể nhỏ bé đã giá lạnh.
Ofelia xứng đáng một cuộc sống khác, một cuộc đời hạnh phúc bên cha mẹ mình, trong một thời đại yên bình không tiếng súng. Cô bé đã chiến đấu hết mình vì cuộc đời hạnh phúc ấy, một cuộc chiến mà chỉ mình cô tận hưởng được vinh quang chiến thắng. Bên ngoài chiến thắng ấy, Ofelia chỉ là một bé gái, đã chết, ngay trong khoảnh khắc trước khi cuộc chiến tranh kết thúc. Ranh giới vĩnh cửu giữa hai thế giới ấy buộc người ta phải ghi sâu sự tàn khốc mà chiến tranh giáng xuống số phận mỗi con người, đặc biệt là sức huỷ diệt của nó lên số phận những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng nó. Để rồi người ta buộc phải nuốt nước mắt mà thốt lên rằng: Giá như…

Anh Phan.