Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

KHÔNG BIẾT ĐÂU MÀ LẦN: Cuốn sách về những hoang mang của tuổi trẻ



Nằm trong số các tác phẩm dự thi Văn học tuổi 20 của NXB Trẻ, Không biết đâu mà lần là góc nhìn vừa hài hước vừa nghiêm túc, vừa tâm huyết vừa uể oải của tác giả (chắc sắp không còn) trẻ Văn Thành Lê về những mặt tối, không chỉ trong ngành Giáo dục, mà còn trong cả cách mà xã hội vận hành.

Truyện xuất xứ từ Baria, ảnh chụp tại Hồ Tây =))


Nhân vật chính trong truyện là “Anh”. Chẳng biết Anh là Anh hay là anh, chỉ biết Anh còn trẻ, Anh mới ra trường, Anh hoang mang trước cái thực tế cử nhân đại học sau bốn năm dùi cái này, mài cái kia, thì chỉ biết ở nhà, đuổi gà, oánh chó, và… dỗi mèo. Thế là Anh đi, Anh đi vì tuổi trẻ thôi thúc, Anh đi vì đó là nơi có công việc đang đợi chờ Anh, Anh còn đi vì lí do gì nữa, thì chắc chỉ có mình Anh biết. Chuyến đi dài đưa Anh đến một vùng ngoại thành, giữa những cánh đồng rau xanh mơn mởn không biết vì rau xanh hay vì thuốc kích thích làm rau xanh có một ngôi trường, và anh sẽ là thầy giáo trong ngôi trường ấy. Chẳng biết Anh có yêu cái công việc anh đang làm hay không, chẳng biết Anh có thấy sướng không, cũng chẳng biết đấy có phải là cuộc đời mà Anh mơ ước hay không, chỉ biết lúc nào anh cũng giơ hai tay lên trời mà thốt lên: “Không biết đâu mà lần!”

“Không biết đâu mà lần” không đơn thuần chỉ là tên sách, càng không đơn giản chỉ là cái câu cửa miệng của nhân vật, mà nó là âm hưởng chung của cả một thế hệ những người trẻ như anh, không, đó là âm hưởng của mọi thế hệ bất kể lão ấu khi đi qua tuổi trẻ. 

Tuổi trẻ ấy là những tháng ngày hừng hực khí thế và háo hức với cuộc đời, khi ta nghĩ trong tay mình là sức mạnh đủ để xoay chuyển cả thế giới. Ta hùng dũng bước đi, và rồi vấp phải cục đá trên đường, ngã vập mặt, vêu mồm. Thế là hết cả sức mạnh tuổi trẻ. Lồm cồm bò dậy, xoa xoa cái cằm tím, cái đầu gối đau, ta quay lưng lại tìm cục đá chết tiệt đã làm mình ngã, và thấy may mắn vì mình mới chỉ vấp phải nó, chứ chưa bị nó đè bẹp. Hòn đá hoá ra là cả một tảng đá, một ngọn núi sừng sững cao vòi vọi... 

Câu chuyện của “Không biết đâu mà lần” cũng na ná như thế, cũng bẽ bàng và nhiều tổn thương như thế. Nó là câu chuyện thường thấy, thậm chí nhan nhản, nhiều như rau dưa cá thịt bày bán ngoài chợ, của những cô cậu cử nhân ra trường và ngơ ngác đặt câu hỏi: “Đời rồi sẽ đi về đâu?”. Đi về đâu không biết là bởi ngay từ đầu đã chọn sai đường đi, hay bởi gặp cảnh ngăn sông cấm chợ? Thôi đúng thật, không biết đâu mà lần!

Không biết đâu mà lần là một câu chuyện đả kích ngành giáo dục. Cũng đúng. Nói nó là một câu chuyện về thứ tuổi trẻ bị “ngược đãi”, chuyện về những nam thanh nữ tú quờ quạng mò mẫm tìm lối đi cho cuộc đời cũng không vừa. Cuốn sách là tất cả của nững thứ ấy, lồng ghép vào nhau, tự làm khổ nhau. Khổ mà không khóc được, chỉ thấy buồn cười. Thật, chẳng biết đâu mà lần.

Ở một cái trường cấp 3 nọ nơi Anh dạy học, có một đàn học sinh ngơ ngác như bò, mà có lẽ là hơn bò, quay cuồng khổ sở trong vòng vây của các thầy cô, còn các thầy cô thì quay cuồng vật vã trong cái vòng vây hãm của chỉ tiêu và thành tích. Cô trò giống như khoai tây cà rốt trong cái nồi nước dùng, còn anh đầu bếp đang cầm thìa ngoáy cật lực cái nồi ấy là ông thầy hiệu trưởng (hình như trong Không biết đâu mà lần, ông thầy hiệu trưởng nào cũng như nhau, cái gì cũng có thừa trừ chuyên môn và tâm huyết), trên ông thầy hiệu trưởng là Phòng, là Sở, là Cục (nghe như thể “cục xà phòng”)… Mọi sự quay cuồng, trắng đen lẫn lộn, nát nhừ… Thật chẳng biết đâu mà lần.

Này thì những cọng hoa xanh mơn mởn xD


Xét về mặt cấu tạo, thì cuốn sách này tiếp tục là một trò chơi chữ nghĩa của Văn Thành Lê, khi anh cố gắng viết ra những câu, tạo ra những ý tứ dài ngoằn ngoèo tựa trò rắn săn mồi vốn một thuở làm mưa gió trên những chiếc điện thoại màn hình đen trắng của thập kỉ xưa xưa. Một câu văn có thể diễn đạt trong mười từ, nhưng đó không phải kiểu viết của Văn Thành Lê. Anh sẽ thêm thắt, nêm nếm, thậm chí là nhồi nhét từ ngữ, ý tứ vào câu văn ấy sao cho nó phải dài gấp đôi, gấp ba… mới đã. Ấy thế mà cái sự dài dòng cố ý đấy lại trở thành nét duyên dáng, thành một dạng “dấu hiệu nhận biết” của Văn Thành Lê. Đọc thì thấy vui vui, đọc xong thì lại thấy… nhơ nhớ. Nhơ nhớ rồi thì phì cười vì không hiểu sao một câu văn lại có thể có nhiều thứ trong đó như vậy, y chang một cái bánh mỳ pate trứng chả ruốc =)). Đọc văn mà tưởng như đang ăn bánh mỳ, cắn ngập răng, vừa no cái bụng vừa sướng cái mồm.

Nhưng trong lòng thì có tí gì buồn man mác.

Chẳng hiểu từ bao giờ những người già, những người đã trải qua cả nửa cuộc đời với vô vàn kinh nghiệm đúc rút được lại không phải nơi để những người đi sau đặt niềm tin hay kính trọng. Họ trở thành đối tượng để chê bai, để đả kích, để nghi ngờ và thậm chí là ghét bỏ. Nên trách ai? Trách những người trẻ non nớt kinh nghiệm là thiếu hụt niềm tin, hay trách những vị lão làng kia, thay vì giúp đỡ những người đã từng một thời hoang mang giống mình thì lại coi chúng như đàn cừu béo để một tay mình thao túng. Kinh nghiệm sống giờ không phải là tri thức, nó đã trở thành một thứ vũ khí để đàn áp những kẻ vẫn còn vô vàn ngơ ngác với cuộc đời.

Thật, chẳng biết đâu mà lần.

Hết.
___________________

Những lời cuối cùng của bài bình luận tả phí lù này, mình viết dành riêng cho mình – cái người vừa trải qua y chang những cung bậc cảm xúc của Anh (một cách tích cực, thì mình cũng là Anh). Mình đọc cuốn sách này như một lần trải nghiệm câu chuyện cuộc đời, không phải của mình, mà là của hơn 2/3 số bạn học cùng mình hồi Đại học. Những khó khăn, những nỗ lực vượt khó của các bạn, mình may mắn không phải trải qua, vì thế nên đã có những lúc mình nhìn nhận họ như những kẻ ù lì chậm tiến, cái gì cũng sợ, cái gì cũng lo, cái gì cũng muốn – dù rằng đôi lúc có được cũng chẳng để làm gì. Mình không thích đánh bạn với họ, mà có lẽ họ cũng chẳng khoái gì một cái đứa vô tổ chức thích gì làm nấy, lại luôn nảy nòi những ý tưởng quái dị giống mình. Mình cũng nghe đôi lời đồn đãi rằng, hình như trong cái lớp đại học năm ấy (vừa tốt nghiệp được 6 tháng) thì có mỗi mình mình là đang đâm đầu vào cái công việc đúng theo ngành học – cũng là cái công việc mình yêu thích nhất.

Thôi thì thông qua cuốn sách này, mình vừa thấy mình, vừa thấy các bạn mình trong đó. Coi như là một cơ hội để hiểu nhau hơn, để nửa này không thấy nửa kia nhạt nhoà, và nửa kia không thấy nửa này chỉ là một con thành phố đành hanh khó chịu. Dù rằng chắc cái nửa kia chả đứa nào điên mà đi bỏ thời gian đọc mấy dòng này, và mình thì chủ trương “Chỉ những ai ăn được sầu riêng mới thấy nó thơm” trong khi mình thuộc số còn lại =)).


Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Gót Thị Mầu đầu Châu Long: Mượn chuyện thần chuyện người để cười thế gian






Tôi bắt gặp cuốn sách, trong một chiều hè nồng nực nọ, giữa đợt thực tập thứ hai, khi đang cùng bạn lang thang giữa phố sách Đinh Lễ.

Và tôi biết, tôi buộc phải có được cuốn sách này.

Tổng thể cuốn sách là một không gian ma mị và đậm tính nữ, toát ra không chỉ từ cái bìa màu hồng cánh sen với bóng cô cái vấn tóc đuôi gà đi giữa mịt mù sương khói xen những cánh cúc vàng tan tác hay dòng chữ “truyện giả cổ” khơi gợi tò mò, mà còn là những chuyện đời, chuyện người được tác giả kể lại trong từng thiên truyện của mình.

Những lời dẫn đầu sách gọi cuốn sách với 10 truyện ngắn của tác giả Trần Chiến là “NHỮNG CHUYỆN TRUYỀN THẦN” bởi mỗi câu chuyện không khắc họa chỉ một khoảnh khắc hay giai đoạn trong cuộc đời nhân vật chính, mà là cả một hành trình dài từ khi người ấy từ đất sinh ra, rồi lại quay về với đất, không chỉ là chuyện một cá nhân, mà là chuyện một dòng họ, một triều đại. Truyện khép lại, là lúc ta có trong tay bức chân dung hoàn chỉnh họa lại một con người sống trong “quá khứ” - cái thời đại mà giờ đây nhắc lại, chỉ biết nó là “Ngày xửa ngày xưa”, còn cụ thể là cái ngày xưa nào, thời đại nào, thì hoàn toàn bất khả.

Chẳng ai nắm tay từ sáng đến tối, chẳng ai bình an thanh thản mà sống trọn cuộc đời. Kẻ hàm oan chết không nhắm mắt, kẻ được cuộc đời ban cho phúc hạnh cũng không thể níu giữ đặc ân ấy cho tới tận sau phút lìa đời. Nhưng có lẽ vì vô thường, vì mong manh, vì đầy biến động, nên rốt cuộc người đọc cũng chỉ có thể xót xa, cay đắng mà để từng trang sách, từng gương mặt người ấy trôi vụt qua mà không thể níu giữ lại.

Cuốn sách gồm hai phần: Kể chuyện thần và kể chuyện người. Thần thì than ôi đủ loại, thượng vàng hạ cám, trên thanh dưới tục… mỗi gương mặt thần hiện lên đều chân chất như cái cốt lõi tinh thần đã sản sinh ra nó. Thần gì cũng nôm na mách qué như anh nông dân hiền lành, cũng biết mạo danh, bày mưu tính kế để giữ ngai bệ, thậm chí che dấu cả danh phận để mong đòi một đời sống khác. Ấy mới biết, xác phàm có thể dễ dàng từ bỏ, nhưng cái thói hư tật xấu của cõi người, thì dường như chẳng bao giờ biến mất.

Kể chuyện thần, nhưng Trần Chiến đã vô cùng công phu trong việc xây dựng nên hình ảnh những con người sống dưới sự chi phối của những ông thần bà thánh ấy. Đó ban đầu là sự e sợ trước một thế lực siêu nhiên mà mình không thể thấu hiểu, xong từ lúc nào đã lại biến báo thành những mưu mô. Một tiếng cười gằn. Cười cái sự ngu muội, cười cái sự u mê, hay cười cái sự gì nữa, thì đành để dành cái sắc thái sự cười ấy cho người đọc. Chỉ biết những trang văn với lối dùng từ hư hư ảo ảo, văn phong ung dung lưu loát dường như đang được dịch lại từ những bản cổ văn, hay thậm chí tuôn ra từ miệng một lão nông nhẩn nha ngày giữa vụ.

Phần tôi thích nhất trong cuốn sách này, lại không phải những trang viết về “Thần”. Tôi thích những bức họa nữ nhân được tác giả “phục chế” lại ở phần sau của cuốn sách, một dạng “ngoại truyện” của pho sách, tích chèo mà ta dường như đã thuộc nằm lòng.

Tôi là loại người thích nghi ngờ tất cả những cái kết kiểu “Họ sống bên nhau hạnh phúc mãi mãi” thường thấy ở cuối mỗi câu truyện cổ tích, hay đôi khi dành nhiều sự chú ý cho một nhân vật phụ “bất thường”. Tôi tò mò về những gì xảy ra sau khi một câu chuyện kết thúc hơn cả việc cảm thấy hài lòng về cái kết viên mãn.

Và những câu chuyện về nàng Kiều, cô Thị Mầu hay nàng Châu Long trong cuốn sách này đã thuyết phục tôi hoàn toàn. Đó là sự thật, một thứ sự thật trần trụi tới mức khiến người ta khó chịu. Các nhân vật không còn khoác lên mình mặt nạ hoa phấn đẹp đẽ mà nghìn năm văn hóa dân gian đã điểm trang. Họ trở lại làm chính mình, với những ghen tuông thù hận. Vì yêu nên ghen. Vì yêu nên sinh ra thù hận. Phận hồng nhan may mắn gặp được người yêu thương che chở, nguyện sống chết hết mình cho người ấy, nhưng rồi phút cuối lại bẽ bàng vì bị vứt bỏ, bị ghẻ lạnh khinh thường. Nào ai muốn sống cuộc đời truân chuyên, phải đơn côi lẻ bóng, nhưng chính những người phụ nữ ấy lại tự mình bứt ra khỏi nơi chốn an toàn bấy lâu. Họ không cần tự do, họ không mong sự bình quyền. Cái họ cần là hạnh phúc và sự trân trọng không còn ở đó, nên họ lại buộc phải ra đi.

Cái cách họ kể câu chuyện của mình, sao thật đàn bà, thật đau đớn, mà vẫn thật đẹp. Đẹp đến nao lòng.

Trong cuốn sách này, cũng là lần đầu tiên tôi tìm thấy phần cuối của truyện ngắn Thị Mầu. Tôi những tưởng mình đã được nghe trọn vẹn truyện này trên đài Hà Nội, nhưng hóa ra câu chuyện ấy đã được biên tập lại, để giấu đi cái kết nghiệt ngã. Phần cuối của câu truyện thực sự khiến tôi đau. Cảm giác đau thực sự khi nhìn một người phụ nữ bị hủy hoại, bị bạo hành về cả thể xác lẫn tinh thần bởi những người đàn ông, những kẻ tự cho mình là “đại trượng phu”. Và tôi cũng nghiêng mình trước cuộc chiến đấu trong vô vọng của người đàn bà ấy, cô Thị Mầu sẵn sàng chết đi sống lại, sống phận tha phương để tìm được sự tự do cô hằng khao khát. Lần này, tự do ở cùng phía với hạnh phúc. Nhưng cả hạnh phúc và tự do đều quay lưng với cô. Chỉ còn lại sau cùng là sự hủy hoại tận sâu tâm hồn

Lại một lần nữa tiếng cười cất lên. Đó là tiếng cười điên dại của Châu Long, hay Thị Mầu, tiếng cười nuốt đi bao khổ đau uất hận.

Xin mượn lời của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu để kết lại bài viết này: “Trong những tác phẩm của nhà văn Trần Chiến có tính cách nho sĩ Bắc Hà hòa quyện với chất liệu dân gian, là một góc nhìn sắc sảo về văn hóa và người Việt truyền thống – Những yếu tố mà Sử học hiện đại luôn cần được tiếp cận để phục dựng một “lịch sử xã hội” đa dạng như đời sống vốn có.

S.Icarus