Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện trinh thám. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện trinh thám. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016
Hoa súng đen - Michel Bussi: Tình yêu là tội ác
Cuốn sách khổ to thứ hai của Nhã Nam mà em nhỏ đọc hết mà không skip đoạn nào, dù em mất cả tháng lận :)))
Hoa súng đen kể về 13 ngày trong cuộc đời ba người phụ nữ: một "mụ phù thủy" già, một cô giáo dạy mĩ thuật với đôi mắt màu hoa súng tím mê hồn và một cô bé con với bản năng hội họa trời cho. Cuộc đời họ không có điểm gì chung, trừ việc họ cùng sinh ra và lớn lên ở Giverny - ngôi làng nơi Monet đã dành trọn quãng thời gian cuối đời để vẽ những bông hoa súng, và ba người phụ nữ ấy đều liên quan đến một vụ giết người.
Xác một người đàn ông được tìm thấy bên sông, đầu bị đá đập nát, một nhát dao đâm xuyên tim và đầu chìm dưới nước. Dường như một kẻ nào đó căm thù nạn nhân tới độ hắn muốn giết anh ta đến ba lần. Không có một manh mối nào cụ thể để chỉ ra hung thủ, trừ một tấm bưu thiếp cũ trong áo nạn nhân với câu thơ trích ra từ một bài thơ cổ.
Đó là mở đầu câu chuyện - một vụ giết người. Nhưng cả cuốn sách khá (quá í) nặng này lại không để tâm nhiều lắm đến thị hiếu của những độc giả say mê một bộ truyện trinh thám với hung thủ và cách giết người. Thay vì thế, giống như một bông hoa súng dập dềnh trên làn nước tù đọng trong ao hoa súng của Monet, tác giả dành khá nhiều thời gian để nhẩn nha cùng các nhân vật bên lề câu chuyện. Vụ án vẫn ở đó, nhưng không phải kiểu vụ án mà thám tử thiên tài sẽ phá xong trong ba nốt nhạc.
Truyện vận hành song song hai ngôi kể: ngôi thứ nhất của bà phù thủy sống trong cối xay bột, lời độc thoại nội tâm của cô bé họa sĩ và ngôi thứ ba dành cho các nhân vật còn lại. Kiểu kể này tạo ra hai tuyến chuyện - hai không gian song song cùng tồn tại và thành công rực rỡ trong việc bóp méo nhận thức của độc giả về mọi thứ đang diễn ra trong từng trang sách - tưởng dở nhưng lại hóa hay vô cùng.
Như mình đã nói, tác giả đã dùng mọi biện pháp có thể, mọi phương tiện có thể xuất hiện trong cuốn sách để thay đổi cảm nhận của độc giả về không gian và thời gian - giống như việc khó mà nhìn những bức tranh của trường phái ấn tượng theo cách ta nhìn những bức tranh tường thời phục hưng. Sẽ luôn có một điểm mù, một khoảng méo mó, những thứ mà chỉ khi lùi lại đủ xa, ta mới luận ra được dáng hình.
Lối kể này hòa hợp sâu sắc với bối cảnh câu chuyện. Thật vậy. Mọi thứ gói gọn trong Giverny, trong 13 ngày đầy biến động - giống như cái ao hoa súng của Monet. Ta bất lực trong việc mở rộng, đi xa hơn nữa trên bề mặt hồ nước ấy, nhưng hoàn toàn có thể xuống sâu, sâu hơn nữa. Sâu tới độ những bí mật đen tối bị thời gian vùi lấp dần lộ diện.
Nhưng chúng ta - những độc giả của Hoa súng đen, cũng chỉ giống như một du khách đứng trên bờ nhìn xuống, khó mà đoán định được hai vật thể trôi trong lòng cái ao ấy - hai cái lá hoa tử đằng một đứa trẻ nghịch ngợm bứt ném xuống hồ chẳng hạn, cái nào ở sâu hơn, hay chúng chỉ đang nổi trên bề mặt...
Các sự kiện xảy ra trong Hoa súng đen giống như những vòng sóng nhỏ loang ra trên mặt hồ. Chúng đồng chất, đồng dạng, và quan trọng hơn cả, đều có chung một điểm khởi đầu - một viên sỏi ném xuống, hoặc một bong bóng khi metan nổi lên... Dường như ở Giverny, thời gian là một vòng lặp giống như những gợn sóng mặt hồ.
Đôi lúc khi chìm quá sâu vào câu chuyện của Hoa súng đen, mình quên béng mất nó là một truyện trinh thám. Các nhân vật "bình thường" trong câu chuyện có quá nhiều suy tư, quá nhiều khao khát và bản năng - để rồi cuối cùng đều chuốc về mình phần thiệt. Họ dường như quá dễ đầu hàng, quá dể bị tổn thương, quá dễ bị làm hại bởi cái ác. Còn cái ác lại có một vỏ bọc quá tận tụy, quá chân phương.
Ấy thế nhưng, câu chuyện về cây anh đào với những dải ruy băng bạc, về cô gái đeo những dải băng ấy trên tóc lại quá ngọt ngào, quá bi kịch - từa tựa như vị của cam thảo để người đọc sến súa là mình ngã vào, và chẳng dễ gì thoát ra được.
Tinh tế, hư ảo, dịu dàng nhưng cũng đầy day dứt, đó là những bông hoa súng của xúc cảm bung nở rực rỡ trong màn đêm của tội ác giăng mắc trong cuốn sách này.
Anh Phan
Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015
All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (1)
KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN
Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus
PHẦN MỘT
1
Tháng sáu năm 1974
Mười phút trước khi biến cố xảy ra, cô bé Laurie Kenyon
bốn tuổi vẫn đang ngồi bắt chéo chân dưới sàn phòng ngủ, mải mê sắp xếp lại nội
thất trong căn nhà búp bê của mình. Chán nản với việc phải thui thủi chơi một
mình, cô bé muốn đi tới bể bơi. Vọng lại từ phía phòng ăn, cô bé có thể nghe
thấy giọng của mẹ và những người bạn phổ thông ở New York của bà. Họ đang ăn trưa và cười nói
vui vẻ.
Mẹ đã dặn rằng, vì chị gái Sarah của cô bé vẫn đang ở bữa
tiệc sinh nhật của một cô bé 12 tuổi khác, nên Beth – người vẫn thỉnh thoảng
trông nom cô vào ban đêm, sẽ đến bơi cùng Laurie. Nhưng từ lúc đặt chân tới
đây, Beth lập tức đã dính lấy chiếc điện thoại.
Laurie gạt những lọn tóc dài màu vàng óng, âm ấm trên
khuôn mặt ra đằng sau. Cô bé đã lên gác được một lúc lâu và tự thay sang bộ đồ
bơi màu hồng. Có lẽ cô cần đi gọi Beth một lần nữa…
Beth đang nằm ườn trên ghế dài, điện thoại kẹp giữa cổ và
tai. Laurie lắc lắc cánh tay Beth. “Em chuẩn bị xong hết rồi.”
Beth có vẻ giận. “Một phút nữa thôi. Chị xong ngay đây
cưng,” cô trả lời. “Chị đang có một việc cực kì quan trọng cần phải bàn.” Laurie
nghe thấy tiếng Beth thở dài vào điện thoại. “Tớ cực ghét cái nghề trông trẻ.”
Laurie tiến về phía cửa sổ. Một cái xe hơi rất dài đang
chầm chậm đi ngang qua trước nhà. Theo sau đó là một cái xe chất đầy hoa, và
rất nhiều xe khác với đèn pha sáng choang. Cứ mỗi lần nhìn thấy đoàn xe như thế
đi qua, Laurie luôn luôn nói rằng thiên đường đang đi đến, nhưng mẹ cô bá lại
bảo không phải thế. Đó là một đoàn xe tang đang trên đường đi đến nghĩa trang.
Ngay cả thế, đoàn xe vẫn khiến Laurie nghĩ tới thiên đường. Cô bé thích chạy
xuống đường và vẫy tay với những người ngồi trên xe. Đôi khi họ cũng vẫy tay
đáp lại cô bé.
Beth giữ nút nhận cuộc gọi. Laurie đang định hỏi hỏi liệu
hai người có thể ra ngoài và xem đoàn xe đi qua hay không khi Beth lại nhấc
điện thoại lên.
Beth là đồ xấu tính,
Laurie tự nhủ. Cô bé nhón chân đi qua căn phòng lớn và lẻn vào trong phòng ăn. Mẹ
và các bạn vẫn đang vui vẻ chuyện trò. Mẹ đang nói “Có thể tin được không chứ,
bọn mình đã tốt nghiệp và rời Villa được 32 năm rồi!”
Người phụ nữ ngồi kế bên mẹ đáng, “Dào ôi, Marie, ít nhất
thì cậu có thể nói dối mà. Cậu có một cô con gái bốn tuổi, còn tớ thì có nguyên
một cô cháu ngoại bốn tuổi!”
“Chúng ta nhìn vẫn còn xuân chán,” ai đó nói, và mọi người
lại bật cười.
Chẳng ai thèm nhìn đến Laurie. Họ cũng xấu tính chết đi
được. Cái hộp nhạc xinh xắn mà mẹ mua cho Laurie nằm ở trên bàn. Laurie lấy cái
hộp. Cửa ra vào chỉ còn cách cô bé vài bước chân. Cô bé mở cửa thật nhẹ nhàng,
nhanh chóng băng qua chiếu nghỉ và chạy qua lối đi dẫn xuống đường lớn. Vẫn còn
vài chiếc xe đi ngang qua ngôi nhà. Cô bé giơ tay vẫy.
Cô bé nhìn theo cho tới khi đoàn xe mất hút khỏi tầm mắt,
khẽ thở dài, hi vọng rằng những người khách sẽ sớm ra về. Laurie vặn dây cót
hộp nhạc và lắng tai nghe tiếng dương cầm cùng giọng hát vang lên. “Từ phía
đông, rồi từ phía tây…”
“Này cô gái nhỏ.”
Laurie không hề nhận ra chiếc xe đang táp vào lề đường và
dừng lại. Lái xe là một phụ nữ. Người đàn ông ngồi bên cạnh ra khỏi xe, nhấc
bổng Laurie lên. Và trước khi cô bé kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Laurie đã bị
kẹp chặt giữa hai người trên băng ghế trước. Cô bé bàng hoàng, tới độ không
thốt được lên lời. Người đàn ông mỉm cười với cô, nhưng khó có thể nói đó là
một nụ cười dễ chịu. Người phụ nữ có mái tóc ôm sát mặt, không tô son. Người
đàn ông để râu, cánh tay phủ một lớp lông xoăn tít. Laurie bị ép chặt về phía
người đàn ông, tới độ cô bé cảm nhận được từng sợi trong đám lông lá ấy.
Chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Laurie ôm chặt cái hộp nhạc.
Bây giờ giọng hát đang ca lên: “Từ khắp nơi trong thị trấn… Những chàng trai và
cô gái ở bên nhau…”
“Mình đi đâu đấy?” – Cô bé hỏi. Cô nhớ rằng mình không
được phép ra ngoài đường một mình. Mẹ hẳn sẽ giận cô lắm. Cô bé thấy mắt mình
ậng nước.
Người phụ nữ trông vô cùng giận dữ. Người đàn ông nói,
“Khắp nơi, bé con, khắp nơi trong thị trấn.”
2
Sarah hối hả đi dọc con phố, cẩn thận giữ trên tay miếng
bánh sinh nhật đặt trong đĩa giấy. Laurie thích những món phủ sô cô la, do đó
Sarah cố gắng mang miếng bánh nguyên vẹn về cho em gái, như một món quà xin lỗi
cho việc cô bé không thể cùng chơi với em khi mẹ có khách.
Đó là một cô bé 12 tuổi dong dỏng cao, đôi mắt to màu xám
với mái tóc đỏ cà rốt thường rối xù lên khi bị ướt, làn da trắng sữa với những
đốm tàn nhang nâu nhạt lấm tấm ngang qua mũi. Con bé nhìn khác hẳn người mẹ nhỏ
nhắn với mái tóc vàng và đôi mắt xanh, cũng không giống người bố với mái tóc
màu nâu tối đã ngả sang muối tiêu.
Sarah luôn lo lắng việc bố mẹ cô – John và Marie Kenyon
quá già so với bố mẹ của những đứa trẻ khác. Cô luôn bị ám ảnh bởi việc họ có
thể qua đời trước khi cô kịp trưởng thành. Người mẹ đã từng giải thích cho cô
bé rằng: “Bố mẹ lấy nhau 15 năm và hầu như từ bỏ hi vọng có thể sinh được một
đứa con. Nhưng vào năm mẹ 37 tuổi, mẹ biết con đang đến bên mẹ, giống như một
món quà. Tám năm sau thì em con, Laurie ra đời. Ôi, Sarah ạ, đó là một phép
màu!”
Vào năm Sarah học lớp hai, cô bé vẫn nhớ rằng mình đã hỏi
Sister Catherine rằng giữa món quà và phép màu, cái nào tốt hơn.
“Phép màu là món quà tuyệt vời nhất mà con người có thể
nhận được,” Sister Catherine trả lời. Buổi chiều hôm ấy, khi Sarah bất ngờ bật
khóc trong lớp, cô đã nói dối rằng đó là vì cô bị đau bụng.
Thậm chí ngay cả khi biết rằng Laurie là đứa bé được yêu
mến hơn, Sarah vẫn yêu quý bố mẹ mình vô điều kiện. Vào năm lên mười, cô bé đã
lập một giao ước với Chúa Trời, rằng nếu Ngài không để bố hoặc mẹ cô chết trước
khi cô trưởng thành, thì Sarah sẽ lau dọn nhà bếp mỗi đêm, giúp bố mẹ chăm sóc
Laurie và không bao giờ nhai lợi của mình nữa. Sarah đã làm rất tốt phần việc
của mình, vì thế nên Chúa Trời đã lắng nghe lời thỉnh cầu của cô bé.
Nụ cười vô thức nở trên môi cô bé. Sarah rẽ vào góc đường
Sồi Song Sinh và nhìn trân trối. Hai chiếc xe cảnh sát đang đỗ ở lối vào nhà cô
bé, đèn xe liên tục nhấp nháy. Rất nhiều hàng xóm đang tập trung ở bên ngoài,
kể cả những người mới chuyển đến hai ngôi nhà phố dưới – những người mà gia
đình cô bé vẫn chưa thực sự gặp mặt. Khuôn mặt mọi người ánh lên vẻ buồn rầu và
sợ hãi, bàn tay họ vô thức ôm chặt hơn những đứa con của mình.
Sarah bắt đầu chạy. Có lẽ bố và mẹ cô đang ốm. Richie
Johnson đang đứng bần thần trên bãi cỏ. Cậu ta là bạn cùng lớp với Sarah ở
Mount Carmel .
Sarah hỏi Richie tại sao mọi người lại đến đây.
Richie nhìn Sarah với ánh mắt ái ngại. Laurie đã mất tích,
cậu bé nói. Bà lão Whelan đã nhìn thấy một gã đàn ông lạ bế Laurie lên xe,
nhưng không hề nhận ra cô bé đã bị bắt cóc.
3
1974 – 1976
Chúng không hề đưa con bé về nhà.
Chúng lái xe rất lâu và đưa con bé đến một căn nhà bẩn
thỉu, nằm vạ vật đâu đó giữa cánh rừng. Chúng tát mỗi khi con bé bắt đầu khóc. Gã
đàn ông vẫn túm lấy con bé và ôm lấy nó. Sau đó gã mang con bé lên tầng. Con bé
cố gắng chống cự, nhưng gã đàn ông cười vào những nỗ lực ấy. Chúng gọi con bé
là Lee, còn tên của chúng là Bic và Opal. Một lúc lâu thì con bé cũng tìm được
cách thoát khỏi hai kẻ bắt cóc, ít nhất là trong tâm trí. Thi thoảng con bé thấy
mình đang trôi lơ lửng trên trần nhà và theo dõi những gì xảy ra với cô bé có
mái tóc dài vàng óng ở bên dưới. Những lúc khác, con bé dùng cô bé ấy như một
trò cười. Thi thoảng, khi những kẻ kia để con bé ngủ một mình, con bé mơ về
những người khác, về bố nó, mẹ nó và Sarah. Nhưng chỉ đến đó thì con bé lại bật
khóc và bọn chúng lại đánh. Vì nỗi sợ hãi ấy, con bé buộc bản thân mình phải
quên đi bố, mẹ và Sarah. Thế là tốt,
giọng nói trong đầu con bé nói với nó. Quên
hết họ đi.
(còn tiếp)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
