Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Kim Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NXB Kim Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Tý Quậy, họa sĩ Đào Hải và tinh thần không bao giờ mất đi




Mình nhớ hồi năm 2014, mình biết tin bác Đào Hải qua đời, không phải qua báo chí, mà bằng dòng thông báo hiện trên bảng tin ở NXB Kim Đồng - trụ sở cũ tại 55 Quang Trung. Đấy là đợt thực tập nghiệp vụ thứ hai của mình. Ban Comic.

Ngày hôm đấy mình cứ thỉnh thoảng lại nghé ra ngoài hành lang, chỗ màn hình tivi chạy dòng thông báo ấy. Lòng lan man nghĩ về ảo tưởng những người không bao giờ chết.

Lúc ấy, nhiều hơn việc nghĩ về một người vừa qua đời, mình nghĩ về những cái kết của các bộ truyện. Có cái vui, có cái buồn, có cái lửng lơ... Và có những cái kết thúc vì người sinh ra nó đã chẳng còn nữa. Như bộ 10% quyết định năm nào mãi mãi dừng lại ở cảnh nhân vật nam chính đạp cửa xông vào hỏi nhân vật nữ "Em đang có thai hả?"... Rồi sau đó, là không gì cả. Mãi mãi không còn gì. Mọi thứ đều nằm trong một chiếc hộp, mà người ta đã đem chiếc chìa khóa duy nhất mở được ổ khóa của chiếc hộp ấy đi nấu chảy thành một khối kim loại không còn hình thù. Tương lai của các nhân vật vẫn tồn tại, nhưng cánh cửa dẫn đến nó thì không còn nữa.

Cho đến khi tập 9 của Tý Quậy ra mắt, dù câu chuyện có gượng gạo đôi phần, nhưng mọi thứ đều thể hiện nỗ lực của họa sĩ, của biên tập viên... Mọi người đều nỗ lực mang lại hình hài vật chất cụ thể cầm nắm được cho những ý tưởng - những tiếng vọng tưởng như vô hình. Đó là những trang bản thảo được họa sĩ Đào Hải hoàn thiện trong những ngày cuối đời, cũng đồng thời là những khoảnh khắc cuối cùng của Tý Quậy. Nhìn những trang bản thảo viết vội, với những từ ngữ đôi lúc được viết dang dở - chỉ vừa đủ để người ta luận ra nó là từ gì, mình tự dưng nhớ đến hai câu trong bài Time in a Bottle của Jim Croce: 
But there never seems to be enough timeTo do the things you wanna do once you find them... 
Ít nhất trong cuộc chạy đua ấy, bác cũng hoàn thiện được trọn vẹn một điều gì đó trong số những điều còn dang dở.

Tạm biệt Tý Quậy, tạm biệt cái không gian xưa cũ của thời bao cấp, của Hà Nội những năm 90 mà không một tiện nghi nào của thời hiện đại có chỗ để chen chân. Mình yêu Tý Quậy một phần, à không, phần nhiều, cũng vì cái sự bảo thủ ấy. Mọi thứ vẫn mãi mãi là một khu nhà tập thể - kiểu một cái nhà biệt thự to to được chia ra làm nhiều cặn hộ nhỏ phân cho cán bộ, mãi mãi là "anh kiến trúc sư nghèo lấy chị kĩ thuật viên nghèo", là những phích nước hoa, là ấm trà ủ trong giỏ, là tờ lịch treo tường, là cái không khí giản dị mỗi buổi sớm mai...

Chương cuối cùng của tập 9 nói về những cơn bão, cơn bão vật lý và cơn bão trong tâm hồn mỗi người... Thật khó để mô tả rành rẽ, nhưng dường như đó là tất cả những gì bác Đào Hải muốn nói, trong suốt nhiều thập kỉ của Tý Quậy. Một sự vội vã đáng yêu, và khiến người ta thấy mắt mình nhòe đi. Truyện khép lại giữa cơn bão, và tiếng của bố Tý Quậy đầy hào sảng: "Bão rồi! Hay quá! Tuyệt vời! Bão to lắm! Ha ha!"

Mình tự dưng liên tưởng đến tiếng hô xung phong của binh lính trước khi ra trận. Liệu có khi nào đây là tiếng hô lấy tinh thần của chính chú Đào Hải trước "trận chiến lớn" trong cuộc đời? Hay tiếng hô đầy lạc quan của một người sắp dấn thân vào một hành trình lớn đến nơi vắng dấu chân người?
Nay ta đã có căn nhà cùng những đứa trẻ, tuy hơi nghịch, học hơi dốt nhưng vẫn đẹp như thiên thần...



Cà.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Thử nghiệm Đất Cháy – Hai cách đi của cùng một con đường



Bài gọn ghẽ xinh tươi trên website NXB Kim Đồng: NXB Kim Đồng - Thử nghiệm Đất Cháy – Hai cách đi của cùng một con đường

365 ngày sau khi phần đầu tiên được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên “Giải mã mê cung” được ra mắt, phần hai của chuỗi phim với tên gọi “Thử nghiệm Đất Cháy” đã ra rạp, tiếp tục cuộc đào thoát của nhóm thiếu niên giữa thế giới hỗn loạn của thế giới hậu tận thế.
Trong phần hai của bộ phim này, khán giả nhận thấy điều gì? Nhóm Trảng viên, dẫn đầu là Thomas được một nhóm người giấu mặt tự xưng là lực lượng giải cứu đưa về một khu căn cứ giữa sa mạc, ở đây họ gặp được rất nhiều thiếu niên khác cùng chung cảnh ngộ với mình, và từ từ từng bước khám phá ra những bí mật đen tối ẩn giấu đằng sau những cánh cửa kim loại được canh phòng cẩn mật… Những bí mật bị hé lộ dẫn đến một cuộc truy đuổi mới, trong một bối cảnh mới, rộng lớn hơn, và nguy hiểm hơn bất cứ con Nhím Sầu nào từng xuất hiện.
Được dán mác “không dành cho trẻ em dưới 16 tuổi” một cách khá buồn cười, bởi đối tượng độc giả chính của cuốn sách là các bạn thiếu niên nằm trong khoảng độ tuổi này, Thử nghiệm Đất Cháy sẽ khiến người xem rùng mình kinh sợ khi lũ quái vật trong phim – người Hoả thi (Crank) xuất hiện và truy đuổi nhóm nhân vật chính trong những tàn tích chìm trong biển cát. Khán giả xem phim rất dễ nhận ra đám người Hoả thi này có bộ dạng và tập quán săn mồi “na ná” người anh em họ xa tên gọi zombie từng xuất hiện trong hai phần phim kinh dị nổi tiếng “28 Days Later” và “28 Weeks Later” (và sắp tới rất có thể là cả “28 Months Later” – và nếu cứ áp dụng cái lý thuyết đặt tên của “21 Jump Street”, thì biết đâu đấy, sẽ có cả “28 Years Later”). Lũ “vận động viên điền kinh” với khẩu vị đặc biệt kinh dị này chính là những người bị nhiễm Nhật Trùng – thứ virus (hay như trong bộ phim này, được mô tả đầy tiềm năng là một sinh vật pha trộn giữa Alien và ốc Anh Vũ) lây lan khiến con người hoá điên trước khi trở thành những sinh vật khát máu. Nhóm của Thomas, mê cung, WICKD và tất cả mọi thứ trong câu chuyện này được tạo ra để đẩy lùi thứ virus chết người ấy.
Nhưng mọi thứ rõ ràng không đơn giản chỉ là cuộc chiến của loài người chống lại thứ virus kia. Loài người không phải lúc nào cũng là một chính thể thống nhất trong suy nghĩ và hành động. Chính vì thế ngay giữa bờ vực của sự suy vong, khán giả vẫn được tận mắt chứng kiến một cuộc “nội chiến” giữa hai phe phái với quan điểm hoàn toàn trái ngược về cùng một vấn đề. Và ngã rẽ của sự lựa chọn phe phái ấy cũng đánh dấu một bước tiến, hay một ngã rẽ tuỳ ý khán giả lựa chọn, bứt toàn bộ tác phẩm điện ảnh ra khỏi dòng chảy của nguyên tác (tất nhiên vẫn “khéo léo” nhắc lại một số chi tiết quan trọng trong tiểu thuyết để nhắc nhở người xem rằng họ thực sự vẫn đang theo dõi “một bộ phim chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của James Dashner”).
Fan hâm mộ “hạng nặng” bộ ba nguyên tác, với một chút ấm ức và miễn cưỡng, vẫn sẽ nói rằng họ thích bộ phim này, nhưng rõ ràng không nhiều như cách họ yêu thích bộ ba nguyên tác. Đó là một sự thật không thể chối cãi, vì Thử nghiệm Đất Cháy là một bộ phim được làm tốt. Mọi thứ đều diễn ra trơn tru và nhịp nhàng, không có bất kì khán giả nào bị bỏ lại đằng sau trong suốt cuộc hành trình của các nhân vật… Các câu hỏi và câu trả lời, các nút thắt mở tình huống được đưa ra vừa đủ và hợp lý xen lẫn với chuỗi cảnh hành động đan xen dày đặc và đầy kịch tính. Và tất nhiên, bộ phim khép lại đầy duyên dáng, như cái cách người tiền nhiệm “Giải mã mê cung” của nó đã làm, bằng một vấn đề cần phải giải quyết, nghiêm trọng hơn, và vô vọng hơn bất cứ điều gì từng xuất hiện xuyên suốt chiều dài bộ phim. Nói cách khác, thay vì tìm cách kết thúc bộ phim một cách đẹp đẽ và gọn gàng như bao bộ phim nhiều phần khác đã làm, đạo diễn Wes Ball và đội ngũ sản xuất đã kết thúc phần phim của mình bằng cách khiến nó “bung bét” hơn bao giờ hết. Cái kết đậm chất “truyền hình” này sẽ khiến vài người xem thiếu kiên nhẫn (hoặc thiếu thông tin) cảm thấy bộ phim cuối cùng chả đi đến đâu cả, thiếu thông điệp chính, thiếu tính liên kết, không mạch lạc, rõ ràng… và đi kèm với đấy là một tỉ linh một lí do khác nữa để kết luận “Phim chán bome ra!”
Nhưng sự thực là nó đâu có chán?
Giờ chưa phải lúc để nói đến chuyện Wes Ball là công thần hay tội đồ với series Giải mã mê cung khi đã làm ra hai phần phim đi ngày càng xa nguyên tác, nhưng một điều chắc chắn có thể khẳng định, đó là vị đạo diễn này đã tạo ra một tiết tấu nhanh hơn, và vì thế, ít dữ dội hơn cho tổng thể câu chuyện.
Thử nghiệm Đất Cháy có thể nói là phần truyện khắc nghiệt nhất trong cả series. Từ “khắc nghiệt” ở đây không chỉ dùng để mô tả khí hậu của vùng Đất Cháy, nó còn mô tả chính xác cuộc sống của các Trảng viên và cách họ cùng nhau tồn tại giữa vùng sa mạc ấy. Hẳn độc giả của cuốn sách vẫn còn nhớ tình trạng thiếu nước, thiếu lương thực triền miên được mô tả trong từng chương truyện, căn phòng trắng đã tra tấn tinh thần Thomas trong nhiều tuần lễ hay những cái chết bất ngờ xảy ra ngẫu nhiên trên suốt hành trình đào thoát của nhóm thiếu niên trẻ tuổi... Cuộc trốn chạy khỏi căn cứ của WICKD không đơn giản chỉ là cướp vũ khí, chia quân làm hai nhánh và kết thúc bằng việc Aris mở sẵn cửa cho nhóm Thomas, Minho, Newt và Chảo Chiên; cũng như cơn bão kèm sấm sét trên sa mạc không kết thúc êm thấm bằng một cú đánh trượt chàng Minho quả cảm… Có nhiều người thoát ra được hơn thế, và cũng nhiều như thế số người đã chết dọc cuộc hành trình. James Dashner đã viết nên một cuốn truyện, mà rõ ràng nếu mang tất cả những nội dung ấy dựng thành hình ảnh, thì bộ phim có lẽ đã trở thành một trải nghiệm kinh hoàng và đau đớn hơn hết thảy.
Quay lại với bộ phim, sau khi đã không ngớt lời khen ngợi dành cho những gì có trong cuốn sách mà bộ phim không thể truyền tải được, thì cũng nên nói về những điều là thế mạnh của bộ phim mà người đọc không thể thấy được trong cuốn sách. Đó là phần hình ảnh hoành tráng với những đụn cát dài mênh mông, nuốt chửng những tàn tích còn sót lại của một nền văn minh mang dáng dấp con người (đến đây cũng xin chú thích thêm một điều thú vị nữa, đó là từ truyện đến phim, Đất Cháy đã đi từ chỗ một vùng đất không xác định đến San Francisco – hẳn khán giả còn nhớ cảnh cây cầu Cổng Vàng huyền thoại xuất hiện sau ngọn đồi cát. Nhân đây câu chuyện của người viết đã lan man đến đoạn có khi nào ngay sau khi Magneto bẻ đôi cái cầu trong X-Men: The Last Stand thì virus Nhật Trùng đã lan ra toàn thế giới?) và những cảnh hành động mãn nhãn bạn không thể nào hình dung được trọn vẹn nếu chỉ đọc một mình cuốn sách.
Yếu tố hành động liên hoàn cũng những chi tiết bị lược bỏ biến phần phim chuyển thể này trở thành một tác phẩm phiêu lưu giả tưởng gần gũi với phần đông khán giả đến rạp xem phim hơn là một câu chuyện sinh tồn đầy khắc nghiệt. Sự chuyển dịch từ tốc độ chậm rãi của cuốn sách sang sự gấp gáp của bộ phim cũng đóng góp ít nhiều vào việc mang cốt truyện của Giải mã mê cung đến với một số lượng đông đảo hơn những người hâm mộ.
Trong Thử nghiệm Đất Cháy này, khán giả cũng sẽ thấy hai luồng tư tưởng đối lập được thể hiện rõ ràng hơn. Lần đầu tiên sau ba tập sách và một phần phim, ta có được câu trả lời về lí do đứng đằng sau sự lựa chọn của Teresa. Thomas không phải người duy nhất nhớ được câu chuyện về cuộc đời mình. Trong phiên bản này, Thomas không được trả lại kí ức, nhưng Terasa thì có, và điều ấy đã ám ảnh cô trong suốt những năm tháng sau này, dẫn dắt cô đến những quyết định phải trả giá bằng tất cả niềm tin và tình yêu của người cô yêu quý. Và điều đáng buồn nhất, vẫn không thay đổi qua cả phiên bản sách và phim, đó là cả hai phe đều có những lí do chính đáng để biện minh cho quan điểm và quyết định của mình. Những lí do thì đều giống nhau, nhưng nó lại dẫn các nhân vật đến với những lựa chọn quá khác biệt.
Như người ta vẫn hay nói: Kịch bản là của biên kịch, nhưng bộ phim là của đạo diễn; trong trường hợp của Thử nghiệm Đất Cháy, câu nói ấy nên được sửa lại thành “Cuốn sách là của nhà văn, nhưng bộ phim là của đạo diễn”. Wes Ball đã sáng tạo nên một câu chuyện hoàn toàn mới – một tác phẩm phái sinh từ chất liệu là bộ sách đã quá nổi tiếng. Khán giả hâm mộ cuốn sách và cả bộ phim đều đã quen với việc những chi tiết, hình ảnh hay sự kiện vô cùng quan trọng trong cuốn sách bỗng dưng… biến mất hay bị cải biến lại (theo một cách tạm cho là hợp lí) từ những phút đầu tiên của Giải mã mê cung phần nào cũng chuẩn bị sẵn tinh thần cho những điều như vậy trong phần hai này. Nhưng có lẽ chưa lúc nào như lúc này, họ hi vọng sự thay đổi ngày càng xa rời nguyên tác ấy sẽ dẫn dắt họ, và cả câu chuyện tới chỗ thay đổi vận mệnh của những nhân vật họ yêu mến, như cái cách mà không ít fan hâm mộ The Hobbit đã mong Peter Jackson không kết thúc câu chuyện của Kili và Fili như cách Tolkien đã làm. Khó có thể nói Peter Jackson đã làm họ hài lòng, nhưng biết đâu đấy một điều kì diệu sẽ xảy ra trong Lối thoát tử thần.

Bắt đầu và kết thúc luôn xoay quanh câu hỏi: Một nền văn minh được xây dựng trên nền tảng của sự man rợ, thì nên hay không nên đặt dấu chấm hết cho nền văn minh ấy? Bộ truyện, và bây giờ là chuỗi phim Giải mã mê cung, Thử nghiệm Đất Cháy sẽ ám ảnh người đọc cũng như người xem nó bằng cảm xúc dằn vặt đến từ những câu hỏi không dễ trả lời. Một sự dằn vặt tích cực, vì chắc hẳn nhờ vào nó, người ta sẽ có một cái nhìn mới mẻ hơn về mọi thứ xung quanh mình.


S.Ikarus

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Cuộc phiêu lưu của quả lê khổng lồ: Chuyến hành trình của những bài học lớn



Ra mắt các bạn độc giả nhỏ tuổi Việt Nam trong khuôn khổ Những ngày văn học châu Âu lần thứ 5, cuốn sách “Cuộc phiêu lưu của quả lê khổng lồ” sẽ đưa các bạn nhỏ đến với một thế giới phiêu lưu tưởng tượng tuyệt vời.


Hãy cùng tưởng tượng, bạn là một chú voi, bạn sống ở thị trấn Ánh Nắng, trong ngôi nhà nhỏ trên đỉnh đồi với người bạn thân thiết là anh chàng mèo Mitcho. Một ngày kia, hai bạn nhặt được một cái chai bị sóng biển đánh dạt vào bờ, bên trong là lá thư với nội dung vô cùng khó hiểu kèm một hạt giống kì lạ. Hai bạn đem hạt giống ấy trồng xuống đất và tèn tén ten… sau một đêm, cái hạt ấy nảy mầm, ra hoa và kết thành một quả lê khổng lồ. Ai cũng tò mò vì quả lê, thậm chí cả thích thú nữa, trừ ngài phó thị trưởng cáu bẳn – và cũng chỉ vì vị phó thị trưởng nóng nảy này, mà đột ngột bạn, cậu bạn Mitcho, giáo sư Glykose và cả quả lê rơi ùm xuống biển… Bên ngoài biển xanh sóng bạc rì rào, bầu trời đầy nắng, bên trong quả lê thì ấm áp tiện nghi, còn gì có thể tuyệt hơn một chuyến phiêu lưu?
Và thế  là những người bạn của chúng ta dong buồm ra khơi trên quả lê khổng lồ xanh mát mắt, hướng tới hòn đảo bí ẩn để giải đáp trọn vẹn nội dung bức thư bí ẩn kia.
“Cuộc phiêu của quả lê khổng lồ” là một chuyến phiêu lưu, tất nhiên nó đã và sẽ luôn là vậy, một chuyến phiêu lưu đầy ly kì, hồi hộp và không thiếu những bất ngờ. Nhưng câu chuyện của voi Sebastian, mèo Mitcho và những người bạn của họ còn chứa đựng nhiều điều bất ngờ hơn thế, khi bản thân nó chứa đựng bên trong những bài học lớn về mọi điều của thế giới xung quanh.
Thị trấn Ánh Nắng của những người bạn đang nằm dưới quyền kiểm soát của vị phó thị trưởng cáu gắt và nóng nảy. Vị phó thị trưởng này đã phá huỷ toà thị chính cũ xinh đẹp để xây dựng nên một toà thị chính mới theo ý mình, thậm chí còn đe doạ trục xuất Mitcho và Sebastian nếu hai cậu không làm quả lê khổng lồ biến mất, dù quả lê ấy chẳng làm hại bất kì cư dân nào của thị trấn… Độc tài, luôn sợ hãi trước những điều nằm ngoài tầm hiểu biết, ngài thị trưởng ấy chính là một vai phản diện có phần lạ lẫm với các em – không phải rồng, cũng chả phải phù thuỷ, càng không phải một mụ dì ghẻ tai quái mà các em thường được dạy “Đó là người xấu”.
Xây dựng nên một thành phố mang màu sắc tưởng tượng, với những nhân vật tưởng tượng nhưng phản ảnh trực tiếp những vấn đề xảy ra trong xã hội có thực – đây là điều mới mẻ và có lẽ vượt xa khỏi cái “khung an toàn” vô hình xưa nay vẫn được mặc định với thể loại sách dành cho các bé nhi đồng, khi câu chuyện thường chỉ gói gọn trong những động vật được nhân hoá, hay những câu chuyện đạo đức xinh xắn (và vô hại). Không phải cái cũ nào cũng hay, và cái mới nào cũng dở. Cái bối cảnh xã hội được xây dựng trong “Cuộc phiêu lưu của quả lê khổng lồ” nằm trong số những cái mới mẻ đáng được ca ngợi ấy.
Bỏ qua những vấn đề có phần “người lớn” trong cuốn sách, ta hoàn toàn có quyền cảm nhận “Cuộc phiêu lưu của quả lê khổng lồ” là một chuyến hành trình đầy ắp đam mê và khát khao chinh phục những chân trời mới. Bộ ba Mitcho, Sebastian và giáo sư Glykose lênh đênh trên biển trong quả lê kì lạ - cũng chính là con thuyền, mái nhà của mình, gặp phải bao khó khăn thử thách khi vừa phải tìm cách thoát khỏi bọn cướp biển hung ác, vừa phải tìm cách sửa chiếc la bàn sẽ dẫn họ đến điểm đích của cuộc hành trình… Sau khi vượt qua bọn cướp biển, họ lại phải đối mặt với con rồng khổng lồ, rồi đi qua vùng biển tăm tối với những linh hồn đáng sợ… Thế nhưng dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn đến như thế nào đi chăng nữa, ba bác cháu vẫn tìm được cách để vượt qua, biến những khó khăn thành thuận lợi, thậm chí ở một mức độ nào đó, còn tận hưởng được cả những vẻ đẹp kì bí của tự nhiên.
Tinh thần đam mê khoa học, yêu thích khám phá ấy chính là điều mà mỗi phụ huynh nên khuyến khích ở con em mình khi đọc cuốn sách. Vì bên ngoài kia là một thế giới rộng lớn đang đợi chờ được biết đến. Vượt qua khuôn khổ của cuốn sách hày hơn 100 trang, tinh thần ham hiểu biết ấy, cũng thái độ lạc quan trước mọi gian khó sẽ là chiếc chìa khoá vàng để mỗi người trong chúng ta khai mở những khả năng tiềm ẩn trong con người mình. 
“Cuộc phiêu lưu của quả lê khổng lồ” cũng là một cuốn sách dạy cho độc giả của nó bài học về sự lắng nghe và chia sẻ. Sự lắng nghe và tinh thần chia sẻ chính là thứ vũ khí sắc bén nhất giúp mèo Mitcho, voi Sebastian và giáo sư Glykose hết lần này đến lần khác vượt qua các thử thách trên biển để đến được với hòn đảo bí ẩn nơi sinh trưởng của những trái lê khổng lồ. Và hơn hết thảy, vượt qua được mỗi thử thách, họ lại có thêm cho mình những người bạn vô cùng kì lạ.
Vượt qua bao gian nan thử thách trên biển, cuối cùng ba bác cháu cũng đến được hòn đảo bí ẩn, tìm thấy ngài thị trưởng mất tích, và trở về. Đến lúc này đây, cuốn sách tiếp tục dạy cho chúng ta một bài học lớn sau cùng về thái độ sống chan hoà với mọi người, sự bao dung và tha thứ.
Chẳng phải vô tình và ngay từ đầu tác phẩm, tác giả Jakob đã để nhân vật chính của mình là một chú voi và một chú mèo vàng sống giữa thế giới con người. Hai người bạn nhỏ suy nghĩ và hành động giống hệt như con người, và hoàn toàn giống với con người, trừ việc chúng là voi và mèo. Mọi người đều yêu mến Mitcho và Sebastian – đó là sự chan hoà và bình đẳng. Khi ngài thị trưởng thực sự trở về và chứng kiến những gì phó thị trưởng đã gây ra, ông lập tức tha thứ cho phó thị trưởng mà không đưa ra bất cứ hình phạt nào. Mâu thuẫn không cần đến vũ lực để được giải quyết, tội lỗi không cần đến hình phạt. Mọi sự được dàn xếp bằng lòng nhân từ và tấm lòng rộng mở.
 Những điều xuất phát từ trái tim sẽ đến được với trái tim. Cuộc hành trình của quả lê khổng lồ đã khép lại trong trang sách, nhưng cuộc phiêu lưu mà nó vừa gợi mở trong tâm trí những độc giả nhí mới chỉ bắt đầu. Cho dù mỗi “nhà thám hiểm” sẽ có một cuộc hành trình khác nhau, nhưng chắc chắn những cuộc hành trình ấy đều có chung “hợp điểm” là những bài học nhỏ bé mà lớn lao đã được Jakob Martin Schid truyền tải trong cuốn sách của mình.
S. Icarus

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

PET SHOP OF HORROR: MA MỊ VÀ HUYỀN BÍ



Đó là một tiệm thú kiểng nằm giữa trung tâm Chinatown – khu vực tập trung những thứ quý hiểm kì lạ trên khắp thế giới. Khách hàng đến tiệm sẽ được ngài Bá tước D tiếp đón và phục vụ tận tình. Mọi yêu cầu sẽ được đáp ứng, không quan trọng nó là gì. Điều quan trong duy nhất là khách hàng phải tuân thủ những điều kiện bắt buộc do chủ cửa hàng đề ra, và sau cùng, sẵn sàng trả giá cho mọi quyết định của mình.

Ra đời từ những năm 1995, bộ manga thuộc thể loại kì bí – kinh dị của tác giả Matsuki Arino chưa bao giờ thiếu đi tính thuyết phục với những fan trung thành của thể loại này.

Cốt truyện chính của Pet shop of  Horror xoay quanh những bí ẩn về thân thế và công việc của Bá tước D – một người đàn ông vận đồ xườn xám toả ra thứ khí chất ma mị, vừa đe doạ vừa cuốn hút, vừa khiến người ta nghi ngờ, lại vừa có cảm giác tin tưởng. Bá tước D sở hữu một cửa tiệm thú kiểng giữa khu phố Chinatown, một cửa hàng cũng huyền bí như chính người vận hành nó. Trong một không gian kiểu Á Đông thoảng mùi hương trầm, mọi nguyện vọng của khách hàng sẽ đều được lắng nghe và đáp ứng. Những loại thú Bá tước D bán cho khách hàng đều vô cùng quý hiếm và bất thường, nhưng có lẽ chính vì vậy mà nó có một sức thu hút đặc biệt, có thể làm hài lòng bất cứ người mua nào sở hữu nó. Cho đến khi cơn ác mộng thực sự bắt đầu.

Mỗi chương trong Pet shop of Horror đều là một câu chuyện độc lập, không có quan hệ tuyến tính với nhau. Điểm đặc sắc trong cách thể hiện của bộ truyện này, cũng chính là “biểu hiện” của tính liên kết của nó, chính là việc tên của các chương truyện đều bắt đầu bằng chữ cái “D” (Dream, Despair, Daughter…) cũng chính là tên của vị bá tước chủ cửa hàng. Mọi câu chuyện đều liên quan đến Bá tước D, bắt đầu từ anh ta, và kết thúc cũng ở anh ta. Cùng với Bá tước D và một số “thú cưng” của mình như Pon-chan hay Ten-chan, nhân vật Thanh tra Leon (nhận nhiệm vụ điều tra những cái chết bí ẩn của những người đã từng là khách hàng đến tiệm) cũng góp phần là cho cốt truyện trở nên dày dặn và thú vị hơn. Hai người dẫn chuyện, một luôn điềm tĩnh mỉm cười, như thể nước hồ không biết nông sâu, một nóng nảy nhưng chính trực dễ đoán, đã mang đến cho người đọc những cuộc phiêu lưu vào một thế giới thực đầy rẫy những điều kì bí mà không logic nào có thể lí giải trọn vẹn.

Một bộ truyện tranh hay không thể thiếu đi một nội dung dày dặn và hấp dẫn song hành cũng phần hình ảnh đẹp mắt. Bên cạnh kịch bản được xây dựng công phu theo kiểu “kính vạn hoa”: một motif duy nhất được triển khai vô cùng đa dạng và giàu cảm xúc qua những tình huống khác nhau; Pet shop of Horror còn khiến độc giả rung động vì phần hình vẽ đã làm trọn vẹn nhiệm vụ truyền tải của nó. Vẫn là những nét vẽ sắc mảnh đặc trưng của những năm 90, nhưng Matsuki Arino đã phối trộn nó với chất liệu văn hoá phương Đông (các hình tượng thần linh, sinh vật huyền bí, hoạ tiết trang phục, đồ mĩ nghệ…), vẽ nên một không gian đặc sắc và riêng biệt, tự nó đủ sức cô lập mình với thế giới phương Tây ở toàn cảnh. Nên có thể nói, trên một phương diện nào đó, Pet shop of Horror chính là một cuốn artbook đầy tính nghệ thuật.


Trong một thời đại mà ánh sáng đèn điện có sức mạnh làm lu mờ cả đêm đen, thì con người dường như đã quá tự mãn vào sức mạnh của giống loài mình. Nhưng trên thực tế, phải chăng chúng ta vẫn chỉ là những sinh vật yếu đuối run sợ trước những ngả đường mà khoa học chưa thể chạm tới, hay tìm đến những thứ kì bí ấy như một sự cứu rỗi cho tâm hồn đã quá nhàm chán trước những điều đã biết của nhân loại? Vậy cuối cùng, con người mạnh mẽ hay yếu đuối, là kẻ kiến tạo hay huỷ diệt? Hãy đón nhận bộ truyện này, đọc nó, và nhìn vào đêm đen, để tìm ra cho bản thân câu trả lời mà bạn tin là đúng đắn.


S.Icarus

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

THỜI NIÊN THIẾU CỦA SHERLOCK HOLMES: Lạc mất và tìm lại

Nền văn hóa đại chúng Anh ghi nhận Ngài Athur Conan Doyle như một trong những biểu tượng văn học bên cạnh những cái tên như William Shakespear, Oscar Wilder, J.J Tolkien hay   George Orwell… Cùng với đó, nhân vật chàng thám tử tài danh Sherlock Holmes của ngài Doyle, cũng như chàng Bilbo Baggin trong tiểu thuyết của Tolkien hay Doctor Who đã trở thành những nhân vật tiêu biểu được cả thế giới biết đến và say mê trong hàng chục năm qua.


Độc giả lâu nay vẫn biết đến thám tử Sherlock Holmes là một người đàn ông trưởng thành miệng ngậm tẩu, sát cánh bên người bạn đồng hành trung thành Watson (hoặc gần đây, trong một số phiên bản truyền hình vỡi nỗ lực làm mới lại biểu tượng này, là một “thám tử cố vấn” Sherlock với miếng dán nicotine trong phim truyền hình Anh, hay một Homles phiên bản Mỹ với cô bạn đồng hành Joan Watson xinh đẹp) chiến đấu vì công lý. Anh là một người đàn ông khiến chúng ta đôi khi phải đặt câu hỏi: “Quá khứ nào đã tôi rèn nên Sherlock Holmes?”
Quãng đời niên thiếu giống như những mảnh ghép bị Holmes gỡ bỏ một cách cố tình khỏi bức tranh cuộc đời mình. Anh làm chúng biến mất, nhưng không có nghĩa chúng chưa từng tồn tại. Nhà văn người Canada Shane Peacock bằng nỗ lực tuyệt diệu và phi thường của mình, dường như đã tìm được một phương pháp để  phục dựng lại những mảnh ghép ấy trong series truyện trinh thám “Thời niên thiếu của Sherlock Holmes”.
Bên cạnh việc kể lại câu chuyện về quãng đời thơ ấu của Holmes, trong bộ sách này, Shane Peacock đã đồng thời phục dựng lại cả Luân Đôn thế kỉ 19, với tất cả những gì chân thực nhất của một đô thành mang hơi thở của thời đại Victoria. Thành phố với chằng chịt những con đường và hẻm ngách đầy rẫy những kẻ bất lương, những khu nhà ổ chuột điêu tàn tồn tại hiên ngang bên cạnh những khu nhà của giới quý tộc sống đời xa hoa nhưng đầy rẫy bí ẩn, dòng sông Thames với dòng chảy uốn lượn cuốn theo nó là số phận của bao con người… Rải rác trong cuốn sách là những tên phố mặt người đã quá thân quen, được in tạc vào lịch sử sâu đậm tới nỗi nếu giả họ chưa hề tồn tại, thì nhân loại hẳn sẽ chẳng thế nào đi đến được ngày hôm nay: Karl Max và Enghel, phó thủ tướng Benjamin Disraeli, “linh hồn của Anh Quốc” – ngài Charles Dickens... Cậu bé Holmes lướt ngang qua Max và Enghel trong một cuộc bạo động của dân nghèo, diện kiến Disraeli trên cây cầu bắc ngang sống Thames một đêm nồng nực, và cùng người dược sĩ già chia sẻ với nhau những chương truyện Dickens chắp bút… Giữa đô thị cổ kính ấy, giữa những đường phố và con người, cậu bé Sherlock dường như không còn sống trong thế giới hư cấu thuần văn học, mà đã đặt được đôi chân mình vào lịch sử nhân loại. Cậu khiến người ta tin rằng cậu tồn tại, cậu có thật, và người ta sẽ tìm thấy cậu, đâu đó, trong những bức ảnh hay tranh vẽ quang cảnh Luân Đôn thời bấy giờ.
Sherlock không phải nhân vật duy nhất trong câu chuyện của ngài Doyle có một quá khứ được kể lại. Câu chuyện ấy bao hàm cả  Giáo Chủ, tên cầm đầu băng nhóm tội phạm nhí với tham vọng làm lũng loạn cả Luân Đôn, cô tiểu thư Irene Doyle phá cách, chàng thanh tra Lestrade mẫn cán… Và cả cái lướt qua tình cờ, với người mà ta hi vọng sau này chính là bác sĩ Watson. Peacock có câu trả lời hợp lý cho tất cả. Cô bé Irene Doyle lột xác thành “The Women” Irene Adler làm Homles chao đảo, sự đối đầu giữa Sherlock với thằng nhóc thủ lĩnh băng cướp nhí trở thành sự đối đầu giữa hai bộ óc thiên tài bậc nhất… Từng bước một, họ biến đổi, và trở thành những nhân vật mà chúng ta đều đã biết mặt quen tên.
Hệ thống nhân vật trong “Thời niên thiếu của Sherlock Holmes” đa phần là ẩn số được tung ra theo kiểu “Ai sẽ là ai?”. Tuy nhiên, nhân vật Sigerson Trismegistus Bell (hay còn được biết đến như một ông dược sĩ già điên khùng với cái lưng hình dấu hỏi, một nhà giả kim, một nhà hóa học, tổ sư của môn võ Bellitsu, ông già đội mũ fez…) là một biến số ngẫu nhiên đầy lý thú. Ông Bell với cửa hàng thuốc trên phố Đan Mạch dường như là một thứ “phiên bản giới hạn” dành riêng cho series thời thơ ấu này, giúp bộ sách tự phân biệt nó với công trình của ngài Doyle, cho dù theo đánh giá cá nhân người viết, Shane Peacock đã bắt nhịp được với nguyên tác một cách hoàn hảo.
Ông dược sĩ Bell quan trọng với Sherlock của Peacock như thể bác sĩ Watson quan trọng với Holmes của ngài Doyle. Họ đều là những người làm nhiệm vụ chữa lành các vết thương – không chỉ là thể xác, mà còn là tâm hồn đầy giông bão của Holmes. Watson là bằng hữu, là tri kỉ, một người thư kí để ghi chép, một người xuất hiện để kể lại những chiến công lẫy lừng của Holmes khi anh đã trưởng thành; còn ông già Bell là mái nhà, là người cha, người thầy, một “sư phụ” thay bậc thân mẫu của Sherlock yêu thương cậu (tất nhiên theo cái cách lạ lùng của riêng ông), dạy dỗ, trang bị cho cậu tất cả những gì cậu cần để trở thành một “chàng trai vàng”, một báu vật của công lý. Những tháng ngày mà họ đã chia sẻ với nhau dưới mái nhà trên phố Đan Mạch, mối quan hệ kì lạ ở ngã ba giữa tình cha con, tình thầy trò và cả tình bằng hữu, niềm vui và hạnh phúc mà cậu bé Sherlock đã tìm lại được khi ở bên ông… người ta sẽ nhớ về nó, như nhớ về tình huynh đệ giữa bác sĩ Watson và Sherlock Holmes.
Con người ta ai cũng phải lớn lên. Và cậu bé Sherlock mười ba tuổi cũng đến ngày phải trưởng thành. Có khác chăng bởi con đường Sherlock lựa chọn là độc đạo, nên quá trình trưởng thành ấy thật nhiều đớn đau và mất mát. Vụ án đầu tiên cậu điều tra đã đẩy mẹ cậu vào chỗ chết. Sherlock hiểu rằng trên ngả đường công lý, những người thương yêu cậu đều gặp nguy hiểm – điều này  trở thành nỗi ám ảnh, ép buộc cậu triệt tiêu cảm xúc, sống bằng những suy luận khoa học chính xác. Sherlock nhận ra công lý mà cậu kiếm tìm không phải sự trả thù cho người mẹ quá cố hay tìm kiếm tiếng tăm lẫy lừng. Nếu hành động vì những mục đích ấy, thì cậu mãi mãi sẽ không thể thành con người mà cậu khao khát.
Bước chuyển mình cuối cùng để trưởng thành của cậu bé Sherlock để trở thành thám tử Sherlock Holmes là gì? Là mùa xuân u ám khi những người cậu yêu thương nối tiếp nhau ra đi? Là khi cậu quyết định cắt đứt mọi liên hệ với những người cậu yêu quý? Hay chiếc đồng hồ sự sống đang đếm ngược về 0 của ông Bell? Hay cuộc đối đầu sinh tử với đối thủ số một? Hay… Mỗi người, thậm chí chính Holmes cũng sẽ có những lựa chọn cho riêng mình. Nhưng đứng ở quan điểm chủ quan của người viết, có lẽ đó là khoảnh khắc trên cầu tàu, ông Bell vạch mặt hung thủ thực sự đã giết Grimsby, và dạy cho Sherlock bài học sau cùng.
“Hãy tôn trọng chính bản thân mình và tôn trọng những người khác. Hãy luôn làm việc đúng đắn, bất chấp tất cả, dù đối thủ của con là ai, dù hắn tàn ác tới đâu. Và hãy mưu mẹo, chàng hiệp sĩ trẻ của ta, hãy dùng những cách thức không chính quy, thậm chí, nói thế nào nhỉ, những chiêu thức hơi hiểm một chút, và hãy luôn chiến thắng! Con hãy tỏa sáng. Con phải chiến thắng! Nhưng đừng bao giờ làm những trò ma mãnh mà chúng làm.” – Sigerson Bell (Trưởng thành. Thời niên thiếu của Sherlock Holmes)
Chàng trai trẻ đã hứa. Anh bắt đầu một cuộc hành trình mới, với những di sản mà ông Bell để lại, quyết tâm xóa đi quá khứ của mình, như loại bỏ điểm yếu cuối cùng mà bọn tội phạm có thể sử dụng để chống lại anh. Anh đã sẵn sàng. Anh đã trưởng thành.
Trong suốt sáu tập sách của mình, Shane Peacock đã duy trì  một lối hành văn gợi cảm, đầy tinh tế pha chút hài hước “kiểu Anh”. Cốt truyện với những tình tiết vô cùng thông minh, ly kì và gay cấn, những cú ngoặt bất ngờ đánh lạc hướng bạn đọc khiến “Thời niên thiếu của  Sherlock Holmes” trở thành một phần mở đầu tuy muộn màng nhưng bắt nhịp mượt mà với phần truyện tưởng diễn ra sau nhưng đã xuất hiện trước nó vài thế kỉ. Bộ sách xuất hiện như một mảnh ghép còn thiếu của lịch sử, một phần tưởng chừng như đã vĩnh viễn biến mất, nay bất ngờ được tìm lại vẹn nguyên.

STRONG ICARUS

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

Pedora Bigband - Bài ca lạc quan của tuổi trẻ



Giữa London thế kỉ 19 có một chàng trai tên Pedora Watson. Pedora là một nhạc công tài năng nhưng cuộc đời sớm rơi vào thảm kịch khi cha anh – một thương nhân chuyên buôn bán nhạc cụ đột nhiên mất tích và bị buộc tội phản nghịch. Địa vị và tiền bạc đột nhiên bay biến, ngày ngày phải chịu sự ghẻ lạnh, khinh thường của những người mới trước đây còn yêu mến tôn sùng mình, chàng Pedora trẻ tuổi không hề nao núng, mà quyết định dấn thân vào chuyến phiêu lưu đầu tiên, và có lẽ cũng là lớn lao nhất trong cuộc đời mình. Pedora đã bỏ học, lên đường đến trung tâm của nghệ thuật Convent Garden cùng người bạn đồng hành Lowell với cây đàn arcordeon và chiếc mũ tai thỏ kì dị. Tuy cậu chưa có gì trong tay, nhưng diễn biến của câu chuyện đã cho thấy Pendora đang dần mở ra một con đường mới huy hoàng mình và bè bạn, với sự nâng bước của âm nhạc và sự lạc quan không biên giới của tuổi trẻ. Khi không có gì trong tay, thì người ta sẽ dễ dàng hơn trong việc đánh đổi và theo đuổi đam mê của mình.



Bên cạnh sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan của các nhân vật chính với vô số tình tiết hài hước nho nhỏ tạo ta một góc nhìn vô cùng tươi sáng về những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua (không nhà cửa, không tiền bạc, không danh tiếng…), Pedora Bigband vẫn có những khoảng nho nhỏ đầy nỗi buồn, khi những người nghệ sĩ phiêu bạt hừng hực nhiệt huyết thanh xuân kia hiện nguyên hình là những đứa trẻ thiếu vắng tình thương của gia đình. Nhưng những nỗi đau ấy giống như những vết thương ấy tuy để lại sẹo nhưng sẽ chóng lành, vì chúng đã tìm được nhau, tìm được đam mê của cuộc đời mình, và tìm được hạnh phúc với niềm đam mê ấy.

Câu chuyện tươi sáng và dạt dào nhiệt huyết của tuổi thanh xuân này cũng sẽ là một lời động viên và có lẽ cả tạo cảm hứng cho những độc giả trẻ của nó trên con đường tìm đến đam mê của chính mình.


 Strong Thị Cà

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

CHÂU LỤC THỨ 7 – Cái ôm tưởng tượng dưới tán cây anh đào




Nhà thơ của một “Chân trời cũ” – Hồ Dzếnh trong bài thơ “Ngập ngừng”, đã viết những dòng thơ đầy lãng mạn: “Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu? /Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu.” Sẽ chẳng có tình yêu nếu như không có những luyến lưu trong lần đầu gặp mặt. Đó cũng chính là khoảnh khắc đẹp nhất mà Văn Thành Lê đã nắm bắt lại trong những trang sách của mình.

Cuốn sách của Văn Thành Lê có một cấu trúc lạ. “Châu lục thứ 7” là tập truyện ngắn, nhưng lại cũng giống như những chương đặt cạnh nhau của một truyện dài. Cuốn sách được tạo thành từ nhiều truyện ngắn nối tiếp nhau, mỗi câu chuyện chỉ nằm vừa vặn trong vài trang sách, cũng có thể nói là đủ đầy, mà cũng không sai khi cho rằng chúng hẵng còn dang dở - giống như khi bạn đọc rất nhiều cuốn sách, nhưng mỗi cuốn sách chỉ đọc duy nhất chương bắt đầu; mang đến cho tôi chút hoài cổ thật nhẹ nhàng. Một thứ cảm xúc văn chương mà dường như rất lâu rồi tôi không trải qua, ngòn ngọt, mơ hồ, ám chút màu hổ phách của thời gian, gợi nhớ đến những thập niên đã cũ.

Một cuộc gặp gỡ tình cờ dưới cơn mưa trong nhà chờ xe buýt, cú ngã giữa chợ rau lúc quá khuya về sáng, bài phóng sự tại trại hoa một ngày đầu xuân, hoặc chỉ đơn thuần là một cái chớp mắt của thời gian, khi chàng trai bỏ quên buổi chiều của mình trong bóng hình một cô gái… Những lát cắt nếu xét về mặt thời gian vật lý, thì sẽ chẳng là gì với cả đời người dài rộng, nhưng về mặt tình cảm lại có thể là bắt đầu của một hành trình hạnh phúc, hoặc điểm kết thúc của một cảm xúc họ mà nhân vật chính trong khung cảnh ấy sẽ lựa chọn mang theo suốt cả cuộc đời. Văn Thành Lê viết một cuốn sách về tình yêu, nhưng anh không nói về con đường, anh nói về bước khởi đầu của những tình yêu ấy. Một cú hích nhẹ nhàng, như tia nắng đầu ngày nhuộm ửng làn mây mù trên mặt hồ mùa thu. Không thể nắm bắt, nhưng đủ khiến lòng người xuyến xao.

Đôi lúc, trong cuốn sách viết về những sự khởi đầu, Văn Thành Lê còn viết về cả những kết thúc, những dở dang của một mối tình thầm lặng. Tuy nhiên không phải vì dang dở mà những tình cảm ấy dễ dàng bị lãng quên. Sự dang dở mang lại cho tình yêu ấy những day dứt khôn nguôi, và vì day dứt, nên có lẽ nó sẽ có một vẻ đẹp bất hoại, giống như những tứ thơ đã trở thành tuyên ngôn của một lớp người: “Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề/ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” (Ngập ngừng – Hồ Dzếnh). Con người có lẽ dễ dàng chấp nhận sự nuối tiếc mãi không vẹn toàn hơn đối mặt với nỗi ê chề thất vọng vào phút sau cùng.

Nếu nói tập sách “Châu lục thứ 7” là một tập truyện ngắn, thì đó sẽ là tập truyện viết về những khoảnh khắc của tình yêu. Còn nếu ví nó như một truyện dài, thì đây là cuộc chạy bền của một người nghệ sĩ trong nỗ lực hoạ lại bức chân dung những người trẻ đang yêu. Điều này dễ dàng nhận ra khi đặt những mẩu truyện ngắn trong cuốn sách chồng lên nhau, và tô đậm những điểm trùng lặp. Trong mỗi câu chuyện của Văn Thành Lê, nhân vật chính đều là những người mới ngoài đôi mươi, hoặc vừa đặt chân đến một miền đất hoàn toàn mới lạ (mà trong sách thì là bùng “Baria” – Vũng Tàu) hoặc chính bản thân họ đang trở nên lạ lẫm với những đổi thay đang diễn ra xung quanh mình. Họ trẻ, họ có nhiều hoài bão, họ có những thở than và trăn trở về cuộc đời, nhưng không phải vì thế mà họ mất đi sự lạc quan, và trái tim hai mươi tràn nhựa sống. Những nhân vật ấy mang trong mình hai con người: một người trưởng thành đầy thực tế, và cả một gã mơ mộng si tình.

Giữa cuộc đời bộn bề lo toan, vẫn có một chàng trai trốn dưới tán cây giá tỵ ngắm nhìn một cô gái, vẫn có một chàng trai khác đi dưới hàng cây anh đào mà tưởng tượng được ra cả một câu chuyện tình… Bằng cái giọng kể bình thản, dịu dàng, Văn Thành Lê đã đưa người đọc đến một khung cảnh rất khác, nằm giấu mình đâu đó giữa hiện tại, nơi những người trẻ tuổi sống thật chậm, nghĩ thật sâu, và trao đi yêu thương không cần điều kiện. Giống như ý văn tôi đã đọc được trong một cuốn tiểu thuyết tình yêu, đại ý nếu ví tình yêu giống như một bông hoa, thì chỉ cần bông hoa ấy nở, là tuổi thanh xuân đã vô cùng mãn nguyện. “Chẳng nhẽ đã đơm hoa là cứ phải kết trái, chẳng lẽ cứ làm cá là phải biết bơi?”. Tuổi trẻ có những cách, đôi lúc thật cực đoan để yêu thương một ai đó ngoài bản thân mình.

Đôi lúc, giữa những trang sách của Văn Thành Lê, tôi có một ý tưởng, là chuyện gì sẽ xảy ra, nếu anh là một hoạ sĩ thay vì một nhà văn viết sách. Nếu xâu chuỗi tất cả những bối cảnh đã từng được anh miêu tả trong “Châu lục thứ 7”, ta sẽ thấy mình như đang được xem một bộ phim tài liệu – tình cảm (nếu thực sự thể loại này có tồn tại) tuyệt đẹp của thiên nhiên đất nước và con người. Từ một nhà chờ xe bus giữa cơn mưa bóng mây xối xả, mặt biển Baria lấp lánh trong ánh nắng tới một xứ Đạo vừa hư vừa thực, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết được ngăn cách bởi 15 phút đồng hồ, từ một khu chợ đầu mối ban đêm lấp loá ánh đèn cho tới một hòn đảo nổi ngoài biển xa, từ một buổi chiều dưới vòm hoa giá tỵ xanh biếc cho tới trại hoa rực rỡ của một ngày cuối đông... Mỗi khung cảnh là một bức tranh sinh động được xây dựng nên bằng những từ ngữ, tưởng như nằm yên trên trang giấy mà lại hoá rực rỡ âm thanh sắc màu. Và tan hoà vào khung cảnh ấy, là những câu chuyện tình chớm nở xanh xanh màu hi vọng, cũng đẹp tuyệt vời như chính phông nền phía sau.

Khiếu hài hước cũng là một nét duyên dáng không chỉ trong “Châu lục thứ 7” mà còn trong nhiều tác phẩm khác của Văn Thành Lê. Cái hài hước ấy không đến từ tình huống, nó đến một cách rất tự nhiên từ góc nhìn của các nhân vật. Mỗi góc nhìn khác nhau sẽ mang đến một “hiện thực chủ quan” khác nhau. Chính vì vậy mà một điều “kinh thiên vĩ địa” với kẻ này lại chỉ là cơn gió thoảng qua với kẻ khác, cuộc gặp gỡ khiến lòng người này bâng khuâng xao xuyến có lẽ lại chẳng là gì trong ánh mắt của kẻ kia. Có lẽ để tránh cho nhân vậy những sự bẽ bàng không đáng có ấy, Văn Thành Lê đã kết thúc câu chuyện ngay trước khi nó thực sự kịp bắt đầu. Quay trở lại vấn đề tôi đang nhắc tới, góc nhìn hài hước về những tình huống trong đời sống hàng ngày được mô tả trong cuốn sách càng tô đậm hình ảnh một người trẻ lạc quan, yêu đời và giàu lòng nhân ái. Tất nhiên, vẫn có những chỗ đây đó, sự hài hước của Văn Thành Lê đi quá giới hạn của sự duyên dáng, nhưng tựu chung lại, nó vẫn là một nét đặc sắc đáng yêu.

Tôi xin khép lại bài viết này bằng hình ảnh con đường hoa anh đào được nhắc đến trong truyện ngắn “Chuyện tình trong trí tưởng” – mẩu truyện “áp chót” trong “Châu lục thứ 7”. Chàng trai trong câu chuyện nhìn thấy một cặp trai gái đi dưới tán cây anh đào (tất nhiên là khác với loại hoa anh đào “xịn” trồng ở xứ Phù Tang) và đã tưởng tượng ra cả một câu chuyện tình yêu dành cho họ. Nhân vật chàng trai trong câu chuyện ấy dường như là đại diện cho tất cả các nhân vật đã từng xuất hiện trong cuốn sách này. Anh ta vừa đủ tò mò để chú ý tới một cặp đôi lướt qua, vừa đủ kiên nhẫn để theo dấu họ suốt cả chặng đường, vừa đủ niềm tin và lãng mạn để tưởng tượng ra một câu chuyện tình yêu mà hai người họ là nhân vật chính, và anh ta cũng đủ nhân hậu để không nghi ngờ họ dù chỉ trong một phút giây. Và câu chuyện tình mà anh ta nghĩ ra, chắc chắn ít nhiều cũng ẩn chứa trong đó ước mơ của anh ta về một tình yêu chân thật. Tình yêu ấy vừa chân thực hiện hữu, vừa mơ hồ kì ảo, lãng mạn và diệu kì như một cái ôm tưởng tượng dưới tán cây anh đào.


Phan Hải Anh.

172 GIỜ TRÊN MẶT TRĂNG: PHÍA TỐI KINH HOÀNG



Từ bộ tiểu thuyết giả tưởng đầu tiên về đề tài du hành vũ trụ của Jules Verne năm 1865 (tựa đề De la terre à la lune – tạm dịch: Từ Trái Đất lên Mặt Trăng) cho tới bộ phim câm năm 1902 của đạo diễn Georges Méliès có tên Le Voyage dans la Lune (tạm dịch: Hành trình đến Mặt Trăng), và rất nhiều những tác phẩm văn học hay điện ảnh sau này, loài người dường như có một khát khao không bao giờ vơi cạn được khám phá và am hiểu tường tận Mặt Trăng - tinh cầu bí ẩn nhưng cũng quá đỗi thân quen. Và cuốn 172 giờ trên Mặt Trăng của nhà văn người Áo – Johan Harstad có thể coi như một tiếp nối đầy ấn tượng.

172 giờ trên Mặt Trăng diễn ra trong bối cảnh NASA khởi động lại chiến dịch đưa con người quay trở lại khám phá Mặt Trăng, tiếp tục sứ mệnh bị bỏ dở từ thập niên 70. Trong lần quay trở lại này, phi hành đoàn không chỉ bao gồm các phi hành gia được đào tạo bài bản mà còn có ba thiếu niên được lựa chọn ngẫu nhiên trong số hàng triệu thiếu niên đáp ứng đủ các yêu cầu. Nhóm thiếu niên được đưa vào chương trình một mặt nhằm lôi kéo sự chú ý của giới trẻ và truyền thông, trong nỗ lực phục hưng lại ngành nghiên cứu tưởng như đã trôi vào dĩ vãng này. Một kế hoạch được tính toán vô cùng tinh vi, tưởng chừng như không có bất kì một sai sót, tất cả, ngoại trừ việc không một ai biết chính xác điều gì đang chờ đợi họ ở Biển Yên Bình – vùng biển cạn trên bề mặt Mặt Trăng.

Ba thiếu niên gồm Mia (người Na Uy), Midori (người Nhật) và Antoine (người Pháp) là những người giành được tấm vé lên Mặt Trăng đầy mơ ước. Tuy nhiên với mỗi người trong số họ, sứ mệnh này lại có những ý nghĩa rất khác nhau. Với Mia – cô ca sĩ của một nhóm nhạc Rock địa phương, thì đó là một cơ hội để đưa sự nghiệp của mình sang trang mới, trong khi với Midori – cô gái với khát vọng nữ quyền, Mặt Trăng là tấm vé giải thoát khỏi cuộc đời trưởng thành nhàm chán đã bày ra trước mắt; còn với Antoine, sứ mệnh này lại là một cuộc đào thoát khỏi mối tình vô vọng. Mỗi người trong số họ đều sống những cuộc đời khác nhau, lâm vào những bế tắc khác nhau, nhưng tựu trung lại, Mặt Trăng đều xuất hiện như một lối thoát, một con đường mới đầy tươi sáng.




Nhưng như cả ngàn năm nay cuộc đời đã luôn vận hành như thế, những kẻ tiên phong luôn là những kẻ phải trả giá đắt. Mia, Midori và Antoine là những thiếu niên đặc biệt, họ được trao cho cơ hội làm những thiếu niên đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng, được nhìn thấy điều mà hàng tỉ người không có cơ hội được thấy, được sống một cuộc đời mà chưa ai từng được sống… và cả những hiểm nguy chưa ai tùng đối mặt. Chuyến đi lên Mặt Trăng sẽ là một trải nghiệm để đời với từng người trong số họ, nhưng với điều kiện, họ có thể tìm được đường về, như kẻ tiên phong kia cuối cùng cũng đến được với chân lý.

Đứng trên một Mặt Trăng hoang vu, bị đe doạ tính mạng bởi những kẻ lạ mặt với sức mạnh siêu nhiên, những thiếu niên cam đảm ấy sợ hãi nhất điều gì? Sợ hãi những kẻ ngoài kia, sợ hãi cái chết bất ngờ, hay sợ hãi chính những con người trên Trái Đất, những kẻ đã biết trước mọi nguy hiểm nhưng vẫn đẩy người ta vào chỗ chết, chỉ để kiểm chứng lại những học thuyết và tham vọng điên rồ của mình? Đến phút cuối cùng, trước lằn ranh sinh tử, bị phản bội, bị nuốt chửng bởi nỗi sợ hãi, thì thứ đáng sợ nhất có lẽ là hi vọng. Hi vọng cho người ta động lực, nhưng hi vọng lại là thứ huỷ hoại người ta nhanh nhất vì nó rất dễ sụp đổ, như cách Mia đã nghĩ. Cô không tin vào hi vọng, cô tin vào bản thân mình, tin vào cuộc đấu tranh sinh tồn trong khu căn cứ hoang tàn tĩnh lặng. Và niềm tin ấy đã giúp cô “gần như” chiến thắng. Có  quan điểm xã hội học cho rằng, tin vào bản thân mình cũng là một hình thức của sự sợ hãi và mất niềm tin, khi con người ta không biết đặt niềm tin vào ai khác ngoài chính mình. Nhưng trong đa số các trường hợp, niềm tin vào bản thân chính là cơ sở cho mọi niềm tin khác, và có lẽ là thứ niềm tin còn lại sau cùng khi người ta lâm vào tuyệt vọng.

Có thể coi 172 giờ trên Mặt Trăng vừa giống như cuốn nhật trình ghi lại quãng thời gian phi hành đoàn tàu Ceres thực hiện sứ mệnh trở lại Mặt Trăng, lại vừa giống với một cuốn nhật ký lưu giữ lại từng sự kiện, từng suy nghĩ của mỗi người trước và trong khi tham gia cuộc hành trình ấy. Một cuốn nhật ký dở dang, và một cuốn nhật trình chết chóc.

Như Johan Harstad đã kể lại trong phần Lời tác giả, trong quá trình tìm kiếm một sự sống khác ngoài không gian, một “đồng minh” để thấy giống loài mình không cô độc, con người đã gửi ra ngoài vũ trụ hai cuốn băng ghi lại những thông tin như cấu trúc sinh học, âm nhạc và nghệ thuật, những thứ đủ để hiểu được về loài người và nền văn minh họ đã xây dựng nên. Những cuốn băng ấy giống như một lời chào đón nhiệt thành gửi tới những người bạn phương xa, nhưng đã bao giờ bạn đặt ra giả thuyết rằng, đó chính là lời mời gọi cho một cuộc xâm lăng từ bên ngoài Trái Đất?

Điều không tưởng ấy là một mối đe doạ thực sự. Sau hàng triệu năm tiến hoá, con người có lẽ đã mất đi sự cảnh giác bản năng, trở nên kiêu ngạo, tự phong mình là những kẻ chinh phục. Chúng ta đã đánh mất đi sự khiêm nhường trước những thế lực vượt ngoài tầm hiểu biết. Bi kịch bắt đầu từ khoảnh khắc ấy. Vũ trụ vô cùng bao la, và con người chỉ là một dấu chấm nhỏ nhoi dễ dàng bị xoá bỏ. Chúng ta không biết rõ về khoảng không gian vô tận ngoài kia như chúng ta hằng tưởng, sự kiêu ngạo và vốn hiểu biết hữu hạn ấy, cuối cùng sẽ dẫn dắt loài người đến bờ vực diệt vong, không chỉ trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng hơn 300 trang này, mà còn trong cả cuộc đời thực chúng ta đang sống. “Tất cả các ngươi sẽ chết”, và chính con người đã tự đào hố chôn mình.

172 giờ trên Mặt Trăng được ca ngợi bởi sự “hoài cổ” khi xây dựng bối cảnh bằng chất liệu từ những bộ phim du hành vũ trụ những năm 80. Sự hoài cổ ấy không chỉ đơn thuần là phông nền bối cảnh, nó còn là mô hình xây dựng cao trào với mở đầu dài trong bình lặng, kịch tính tăng dần về nửa cuối trước một cú chốt bùng nổ. Phần đầu truyện diễn ra khá chậm, phải mất tới hơn một nửa cuốn sách, bạn đọc mới theo chân nhóm thiếu niên đến được Biển Yên Bình nơi đặt căn cứ DARLAH 2 – một sự chuẩn bị tâm lý vừa đủ để bạn đọc trở nên yêu quý các nhân vật, và sẵn sàng sát cánh bên họ trong cuộc phiêu lưu tưởng tượng. Nhưng từ sau thời điểm ấy, tiết tấu  truyện trở nên dồn dập, nhanh chóng với những cú ngoặt bất ngờ - có thể tưởng tượng giống như tốc độ một quả tên lửa rời bệ phóng khiến người đọc, đôi khi là cả nhân vật, không có đủ thời gian để kinh hoàng.



Bên cạnh một kết cấu truyện được xây dựng công phu, thì sự hoà trộn giữa các thể loại cũng là một nét vô cùng đặc sắc. 172 giờ trên Mặt Trăng được sáng tác trên hai thể loại chính là khoa học viễn tưởng và kinh dị, xen lẫn một chút tâm lý tuổi mới lớn. Trong khi nửa đầu tác phẩm tập trung vào thể loại khoa học viễn tưởng và tâm lý, kinh dị chỉ lướt qua trong một vài chi tiết nhỏ, đủ đề người đọc giật mình thì trong nửa cuối, tác phẩm gần như là sự độc diễn của thể loại kinh dị, mà trong đó, khoa học viễn tưởng chỉ là xúc tác để câu chuyện đạt được sự ghê rợn cần thiết. Tất nhiên, tuy đáng sợ, nhưng cũng nhiều suy tưởng và giàu cảm xúc yêu thương. Johan Harstad đã viết nên một câu chuyện lạ kì, mà trong đó, anh xây dựng nên mỗi nhân vật với những câu chuyện đời khác nhau; những câu chuyện mà khi chúng kết thúc, ta có thể không hiểu đến tận cùng, nhưng đều tin vào tính chân thực của nó cũng như có được cho mình những lí do để tha thứ cho họ dù đã phản bội, hay lừa dối ta.

Nếu như Jules Verne ở thế kỉ thứ 19, thời đại của các mạng khoa học công nghệ, của cơ khí phát triển, của một kỉ nguyên khám phá nhìn Mặt Trăng như một miền đất hứa, một môi trường hoàn toàn mới lạ để chinh phục, thì ở thế kỉ 21 của công nghệ số, nhà văn người Na Uy Johan Harstad, hoà chung vào dòng suy tưởng của những nhà văn đương đại, lại nhìn tinh cầu này bằng một sự hoài nghi xen lẫn nỗi kinh sợ. Đây cũng là xu hướng mới trong sự phát triển của dòng truyện khoa học viễn tưởng, khi mọi thứ đều trở nên cũ mòn, và loài người dường như đang mất đi cái nhìn lạc quan vào cuộc sống quanh mình.


Phan Hải Anh