Hiển thị các bài đăng có nhãn Marry Higgins Clark. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marry Higgins Clark. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (2)

KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN

Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus



Nhấn vào đây để đọc từ chương 1 đến chương 3

4

Ban đầu, cảnh sát đến thăm gia đình mỗi ngày, ảnh của Laurie được đăng ở trang nhất mọi tớ báo ở New Jersey và New York. Ở nhà, với hai hàng nước mắt, Sarah nhìn thấy bố mẹ mình trên chương trình “Chào buổi sáng”, cầu xin những kẻ bắt cóc mang trả Laurie về cho họ.
Hàng tá người gọi điện tới và nói rằng họ đã nhìn thấy Laurie, nhưng không có một mang mối nào hữu ích. Cảnh sát đã hi vọng rằng đây là một vụ bắt cóc đòi tiền chuộc, nhưng không có một yêu cầu nào được đưa ra.
Mùa hè tới. Sarah chứng kiến khuôn mặt mẹ mình trở nên tiều tụy và hốc hác, cùng với đó là hình ảnh cha cô liên tục phải lục tìm lọ thuốc nitro-glycerin trong túi áo. Mỗi buổi sáng, họ đi đến buổi lễ lúc 7 giờ và cầu nguyện để Laurie được đưa trả về nhà. Mỗi đêm, Sarah thường tỉnh giấc để nghe thấy tiếng mẹ cô bé thổn thức, và tiếng cha cô an ủi vợ khi bản thân ông cũng đã kiệt sức. “Laurie được sinh ra đã là cả một phép màu. Hãy tin vào một phép màu khác sẽ mang con bé quay trở lại,” cô bé nghe tiếng bố nói.
Năm học mới lại bắt đầu. Sarah luôn là một học sinh xuất sắc. Cô mải mê với những cuốn sách, nhận ra rằng chỉ bằng việc học, cô mới có thể trốn thoát khỏi nỗi phiền muộn của bản thân. Bẩm sinh đã sở hữu vóc dáng của một vận động viên, cô bắt đầu học cách chơi golf và tennis. Sarah vẫn không nguôi nhớ mong người em gái, nỗi nhớ hiện hình trong những con đau tức. Cô tự hỏi liệu Chúa Trời có đang trừng phạt mình vì đã có lúc oán trách rằng tại sao mọi sự quan tâm đều được dành cho Laurie. Cô tự buộc tội mình vì ngày hôm đó đã đi dự sinh nhật và lờ đi việc Laurie không được phép ra ngoài một mình. Cô hứa rằng, nếu Chúa Trời mang Laurie trả lại cho họ, cô sẽ luôn luôn, luôn luôn chăm sóc cho em gái mình.

5
Mùa hè trôi qua. Gió bắt đầu lùa qua những khe nứt trên các bức tường. Laurie lúc nào cũng lạnh cóng. Một ngày kia, Opal trở về nhà với vài cái áo dài tay, quần bò yếm, và một cái áo khoác mùa đông. Chúng không đẹp như quần áo Laurie từng mặc. Khi trời ấm trở lại, chúng đưa cho Laurie những bộ quần áo khác, quần cộc, áo phông và dép sandal. Một mùa đông nữa lại trôi qua. Laurie ngắm nhìn những chiếc lá trên cái cây to trước nhà bung lộc, lớn lên, nhanh chóng phủ kín mọi cành nhánh.
Bic có một cái máy đánh chữ cũ đặt trong phòng ngủ. Cái máy tạo ra những tiếng lách cách rất to mà Laurie có thể nghe thấy khi đang lau bếp hay xem tivi. Tiếng lách cách đó là một âm thanh hạnh phúc. Nó cho Laurie biết tạm thời Bic không thèm bận tâm đến cô.
Một lúc lâu sau, Bic sẽ ra khỏi phòng ngủ, cầm theo một xấp giấy và bắt đầu đọc to chúng cho Laurie và Opal. Hắn luôn luôn gào tướng lên, cũng như luôn kết thúc bằng cùng một câu, “Hallelujah. Amen!”. Khi đã kết thúc bài đọc, Opal và Bic sẽ cùng nhau hát váng lên. Luyện tập, chúng gọi việc đó như vậy. Những bài ca về Chúa và con đường về nhà.
Nhà. Đó là từ mà giọng nói trong đầu con bé muốn Laurie không bao giờ nghĩ về nữa.
Laurie chưa bao giờ bắt gặp một ai khác. Chỉ có Bic và Opal. Và khi ra ngoài, chúng nhốt con bé dưới tầng hầm. Điều này xảy ra khá thường xuyên. Tầng hầm là một nơi vô cùng đáng sợ. Cửa sổ gần như được gắn trên trần nhà, và bị bít lại bằng những tấm ván. Một nơi đầy những cái bóng, đôi khi những cái bóng dường như còn di chuyển. Lần nào cũng vậy, Laurie cố gắng chìm vào giấc ngủ ngay trên cái đệm mà chúng bỏ lại trên sàn.
Bic và Opal gần như không bao giờ có bạn. Nếu như có ai đó đến chơi nhà, Laurie sẽ bị nhốt dưới tầng hầm, với cẳng chân bị xích vào ống nước. Như vậy con bé sẽ không thể trèo lên và đập cửa. “Và nếu mày dám mở mồm kêu cứu,” Bic đe dọa. “Thì mày sẽ gặp rắc rối lớn đấy, và dù gì đi nữa, chúng tao cũng chẳng thể nghe thấy tiếng mày.”
Sau mỗi lần đi ra ngoài, chúng thường mang tiền về. Đôi khi chẳng đáng là bao, đôi khi lại ra tấm ra món. Hầu hết là *quarters* và *dollar bills*.
Chúng để con bé đi ra sân sau cùng với chúng. Chúng chỉ cho con bé cách tưới rau trong vườn và nhặt trứng trong chuồng. Có một con gà con mới nở, chúng cho phép Laurie giữ nó làm vật nuôi. Laurie chơi đùa với con gà mỗi khi cô bé có cơ hội ra ngoài. Thỉnh thoảng, khi chúng nhốt con bé dưới tầng hầm và đi ra ngoài, chúng cho phép Laurie giữ con gà bên mình.
Cho tới một ngày tồi tệ nọ, khi Bic giết con gà.
Sáng sớm tinh mơ một ngày nọ, họ bắt đầu đóng gói đồ đạc – chỉ quần áo, tivi và cái máy đánh chữ của Bic. Bic và Opal vừa làm vừa hát rống lên, “Ha-lay-loo-ya.”
“Một trạm phát 15000 oát ở Ohio!” – Bic gào lên, “Bible Bell, chúng tao tới đây!”
Họ lái xe suốt hai tiếng đồng hồ. Rồi từ ghế sau, vật lộn giữa đám hành lí cũ kĩ, Laurie nghe thấy tiếng Opal nói, “Đến nhà hàng và đánh chén một bữa tối cho tử tế nào. Sẽ chẳng ai chú ý đến con bé đâu. Chúng có lí do gì để làm thế đâu?”
Bic nói, “Đúng đấy.” Sau đó hắn nhanh chóng nhìn Laurie, qua vai. “Opal sẽ gọi bánh mì kẹp và sữa cho mày. Đừng có dại mà bắt chuyện với bất kì ai, nghe chưa”
Ba người bước vào một chỗ với quầy bán hàng dài cùng rất nhiều bàn và ghế. Laurie đói tới độ con bé dường như nếm được cả vị của món thịt lợn hun khói mà người ta đang rán. Nhưng còn có cái gì đó rất khác. Con bé nhớ mang máng rằng nó đã từng ở một nơi như thế này, với những người khác. Một cơn nức nở không thể kiềm chế dâng lên trong cổ họng con bé. Bic đẩy nó từ đằng sau, hối thúc nó bám theo Opal, và con bé òa khóc. Con bé khóc to đến độ nó không thể thở được. Nó nhìn thấy cô gái ở quầy thu ngân đang nhìn mình chằm chằm. Bic tóm lấy con bé và đẩy nó về phía bãi để xe, Opal theo hắn sát gót.

Bic ném con bé vào ghế sau, rồi hắn và Opal vội vã lao lên ghế trước. Khi Opal đạp lên chân ga, Bic túm lấy con bé. Opal cố né tránh khi bàn tay lông lá vung qua lại ngang mặt ả. Nhưng Opal không hề cảm thấy đau đớn. Ả ta chỉ thấy thương hại cho đứa bé gái đang khóc ngằn ngặt phía sau xe.

(còn tiếp)

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (1)


KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN

Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus





PHẦN MỘT

1
Tháng sáu năm 1974
Ridgewood, New Jersey
Mười phút trước khi biến cố xảy ra, cô bé Laurie Kenyon bốn tuổi vẫn đang ngồi bắt chéo chân dưới sàn phòng ngủ, mải mê sắp xếp lại nội thất trong căn nhà búp bê của mình. Chán nản với việc phải thui thủi chơi một mình, cô bé muốn đi tới bể bơi. Vọng lại từ phía phòng ăn, cô bé có thể nghe thấy giọng của mẹ và những người bạn phổ thông ở New York của bà. Họ đang ăn trưa và cười nói vui vẻ.
Mẹ đã dặn rằng, vì chị gái Sarah của cô bé vẫn đang ở bữa tiệc sinh nhật của một cô bé 12 tuổi khác, nên Beth – người vẫn thỉnh thoảng trông nom cô vào ban đêm, sẽ đến bơi cùng Laurie. Nhưng từ lúc đặt chân tới đây, Beth lập tức đã dính lấy chiếc điện thoại.
Laurie gạt những lọn tóc dài màu vàng óng, âm ấm trên khuôn mặt ra đằng sau. Cô bé đã lên gác được một lúc lâu và tự thay sang bộ đồ bơi màu hồng. Có lẽ cô cần đi gọi Beth một lần nữa…
Beth đang nằm ườn trên ghế dài, điện thoại kẹp giữa cổ và tai. Laurie lắc lắc cánh tay Beth. “Em chuẩn bị xong hết rồi.”
Beth có vẻ giận. “Một phút nữa thôi. Chị xong ngay đây cưng,” cô trả lời. “Chị đang có một việc cực kì quan trọng cần phải bàn.” Laurie nghe thấy tiếng Beth thở dài vào điện thoại. “Tớ cực ghét cái nghề trông trẻ.”
Laurie tiến về phía cửa sổ. Một cái xe hơi rất dài đang chầm chậm đi ngang qua trước nhà. Theo sau đó là một cái xe chất đầy hoa, và rất nhiều xe khác với đèn pha sáng choang. Cứ mỗi lần nhìn thấy đoàn xe như thế đi qua, Laurie luôn luôn nói rằng thiên đường đang đi đến, nhưng mẹ cô bá lại bảo không phải thế. Đó là một đoàn xe tang đang trên đường đi đến nghĩa trang. Ngay cả thế, đoàn xe vẫn khiến Laurie nghĩ tới thiên đường. Cô bé thích chạy xuống đường và vẫy tay với những người ngồi trên xe. Đôi khi họ cũng vẫy tay đáp lại cô bé.
Beth giữ nút nhận cuộc gọi. Laurie đang định hỏi hỏi liệu hai người có thể ra ngoài và xem đoàn xe đi qua hay không khi Beth lại nhấc điện thoại lên.
Beth là đồ xấu tính, Laurie tự nhủ. Cô bé nhón chân đi qua căn phòng lớn và lẻn vào trong phòng ăn. Mẹ và các bạn vẫn đang vui vẻ chuyện trò. Mẹ đang nói “Có thể tin được không chứ, bọn mình đã tốt nghiệp và rời Villa được 32 năm rồi!”
Người phụ nữ ngồi kế bên mẹ đáng, “Dào ôi, Marie, ít nhất thì cậu có thể nói dối mà. Cậu có một cô con gái bốn tuổi, còn tớ thì có nguyên một cô cháu ngoại bốn tuổi!”
“Chúng ta nhìn vẫn còn xuân chán,” ai đó nói, và mọi người lại bật cười.
Chẳng ai thèm nhìn đến Laurie. Họ cũng xấu tính chết đi được. Cái hộp nhạc xinh xắn mà mẹ mua cho Laurie nằm ở trên bàn. Laurie lấy cái hộp. Cửa ra vào chỉ còn cách cô bé vài bước chân. Cô bé mở cửa thật nhẹ nhàng, nhanh chóng băng qua chiếu nghỉ và chạy qua lối đi dẫn xuống đường lớn. Vẫn còn vài chiếc xe đi ngang qua ngôi nhà. Cô bé giơ tay vẫy.
Cô bé nhìn theo cho tới khi đoàn xe mất hút khỏi tầm mắt, khẽ thở dài, hi vọng rằng những người khách sẽ sớm ra về. Laurie vặn dây cót hộp nhạc và lắng tai nghe tiếng dương cầm cùng giọng hát vang lên. “Từ phía đông, rồi từ phía tây…”
“Này cô gái nhỏ.”
Laurie không hề nhận ra chiếc xe đang táp vào lề đường và dừng lại. Lái xe là một phụ nữ. Người đàn ông ngồi bên cạnh ra khỏi xe, nhấc bổng Laurie lên. Và trước khi cô bé kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Laurie đã bị kẹp chặt giữa hai người trên băng ghế trước. Cô bé bàng hoàng, tới độ không thốt được lên lời. Người đàn ông mỉm cười với cô, nhưng khó có thể nói đó là một nụ cười dễ chịu. Người phụ nữ có mái tóc ôm sát mặt, không tô son. Người đàn ông để râu, cánh tay phủ một lớp lông xoăn tít. Laurie bị ép chặt về phía người đàn ông, tới độ cô bé cảm nhận được từng sợi trong đám lông lá ấy.
Chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Laurie ôm chặt cái hộp nhạc. Bây giờ giọng hát đang ca lên: “Từ khắp nơi trong thị trấn… Những chàng trai và cô gái ở bên nhau…”
“Mình đi đâu đấy?” – Cô bé hỏi. Cô nhớ rằng mình không được phép ra ngoài đường một mình. Mẹ hẳn sẽ giận cô lắm. Cô bé thấy mắt mình ậng nước.
Người phụ nữ trông vô cùng giận dữ. Người đàn ông nói, “Khắp nơi, bé con, khắp nơi trong thị trấn.”


2

Sarah hối hả đi dọc con phố, cẩn thận giữ trên tay miếng bánh sinh nhật đặt trong đĩa giấy. Laurie thích những món phủ sô cô la, do đó Sarah cố gắng mang miếng bánh nguyên vẹn về cho em gái, như một món quà xin lỗi cho việc cô bé không thể cùng chơi với em khi mẹ có khách.
Đó là một cô bé 12 tuổi dong dỏng cao, đôi mắt to màu xám với mái tóc đỏ cà rốt thường rối xù lên khi bị ướt, làn da trắng sữa với những đốm tàn nhang nâu nhạt lấm tấm ngang qua mũi. Con bé nhìn khác hẳn người mẹ nhỏ nhắn với mái tóc vàng và đôi mắt xanh, cũng không giống người bố với mái tóc màu nâu tối đã ngả sang muối tiêu.
Sarah luôn lo lắng việc bố mẹ cô – John và Marie Kenyon quá già so với bố mẹ của những đứa trẻ khác. Cô luôn bị ám ảnh bởi việc họ có thể qua đời trước khi cô kịp trưởng thành. Người mẹ đã từng giải thích cho cô bé rằng: “Bố mẹ lấy nhau 15 năm và hầu như từ bỏ hi vọng có thể sinh được một đứa con. Nhưng vào năm mẹ 37 tuổi, mẹ biết con đang đến bên mẹ, giống như một món quà. Tám năm sau thì em con, Laurie ra đời. Ôi, Sarah ạ, đó là một phép màu!”
Vào năm Sarah học lớp hai, cô bé vẫn nhớ rằng mình đã hỏi Sister Catherine rằng giữa món quà và phép màu, cái nào tốt hơn.
“Phép màu là món quà tuyệt vời nhất mà con người có thể nhận được,” Sister Catherine trả lời. Buổi chiều hôm ấy, khi Sarah bất ngờ bật khóc trong lớp, cô đã nói dối rằng đó là vì cô bị đau bụng.
Thậm chí ngay cả khi biết rằng Laurie là đứa bé được yêu mến hơn, Sarah vẫn yêu quý bố mẹ mình vô điều kiện. Vào năm lên mười, cô bé đã lập một giao ước với Chúa Trời, rằng nếu Ngài không để bố hoặc mẹ cô chết trước khi cô trưởng thành, thì Sarah sẽ lau dọn nhà bếp mỗi đêm, giúp bố mẹ chăm sóc Laurie và không bao giờ nhai lợi của mình nữa. Sarah đã làm rất tốt phần việc của mình, vì thế nên Chúa Trời đã lắng nghe lời thỉnh cầu của cô bé.
Nụ cười vô thức nở trên môi cô bé. Sarah rẽ vào góc đường Sồi Song Sinh và nhìn trân trối. Hai chiếc xe cảnh sát đang đỗ ở lối vào nhà cô bé, đèn xe liên tục nhấp nháy. Rất nhiều hàng xóm đang tập trung ở bên ngoài, kể cả những người mới chuyển đến hai ngôi nhà phố dưới – những người mà gia đình cô bé vẫn chưa thực sự gặp mặt. Khuôn mặt mọi người ánh lên vẻ buồn rầu và sợ hãi, bàn tay họ vô thức ôm chặt hơn những đứa con của mình.
Sarah bắt đầu chạy. Có lẽ bố và mẹ cô đang ốm. Richie Johnson đang đứng bần thần trên bãi cỏ. Cậu ta là bạn cùng lớp với Sarah ở Mount Carmel. Sarah hỏi Richie tại sao mọi người lại đến đây.
Richie nhìn Sarah với ánh mắt ái ngại. Laurie đã mất tích, cậu bé nói. Bà lão Whelan đã nhìn thấy một gã đàn ông lạ bế Laurie lên xe, nhưng không hề nhận ra cô bé đã bị bắt cóc.

3
1974 – 1976
Bethlehem, Pennsylvania
Chúng không hề đưa con bé về nhà.
Chúng lái xe rất lâu và đưa con bé đến một căn nhà bẩn thỉu, nằm vạ vật đâu đó giữa cánh rừng. Chúng tát mỗi khi con bé bắt đầu khóc. Gã đàn ông vẫn túm lấy con bé và ôm lấy nó. Sau đó gã mang con bé lên tầng. Con bé cố gắng chống cự, nhưng gã đàn ông cười vào những nỗ lực ấy. Chúng gọi con bé là Lee, còn tên của chúng là Bic và Opal. Một lúc lâu thì con bé cũng tìm được cách thoát khỏi hai kẻ bắt cóc, ít nhất là trong tâm trí. Thi thoảng con bé thấy mình đang trôi lơ lửng trên trần nhà và theo dõi những gì xảy ra với cô bé có mái tóc dài vàng óng ở bên dưới. Những lúc khác, con bé dùng cô bé ấy như một trò cười. Thi thoảng, khi những kẻ kia để con bé ngủ một mình, con bé mơ về những người khác, về bố nó, mẹ nó và Sarah. Nhưng chỉ đến đó thì con bé lại bật khóc và bọn chúng lại đánh. Vì nỗi sợ hãi ấy, con bé buộc bản thân mình phải quên đi bố, mẹ và Sarah. Thế là tốt, giọng nói trong đầu con bé nói với nó. Quên hết họ đi.
(còn tiếp)