Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

KẺ LẠ MẶT BÊN KIA DÒNG NƯỚC - Amelie Nothomb




Chúng ta không hiểu gì về bản thân mình. Chúng ta ảo tưởng chúng ta đã từng sống là chính mình, nhưng hoá ra “chính mình” chỉ là thứ hình ảnh phản chiếu ngược. Năm tháng qua đi càng nhiều, thì hiểu biết của chúng ta về cái con người ta gọi tên “chính mình” ấy càng vơi bớt.

Đấy rút cuộc không phải vấn đề. Đâu có gì sai khi ta sống cuộc đời của một kẻ xa lạ? Có lẽ nên diễn đạt vấn đề theo hướng này: hiểu bản thân mình, đổ bệnh bất thình lình.

Sự xung đột tầm thường này chẳng thể làm tôi bận tâm nếu như… nói thế nào nhỉ… Nếu như tôi không gặp Mr. Bernardin.

Tôi tự hỏi, mọi chuyện bắt đầu khi nào nhỉ? Giống như thể Cuộc chiến Trăm năm: có thể là bất kì trong số hàng tá ngày tháng đã đi qua. Có thể nói chính xác rằng mọi biến cố đã bắt đầu vào khoảng một năm trước, cũng có thể khẳng định thêm rằng mọi sự trở nên bung bét vào sáu tháng trước. Dù gì đi nữa, cũng chả sai khi nói rằng mọi thứ đã bắt đầu vào khoảng thời gian khi chúng tôi lấy nhau, vào 43 năm về trước. Nhưng sự thực thực sự, được khẳng định chắc nịch bằng mọi mức độ của ngôn từ, ngọn nguồn câu chuyện bắt đầu vào ngày sinh của tôi - sự kiện đã xảy ra vào 66 năm trước.

Thôi thì tôi sẽ chọn phương án đầu tiên: mọi chuyện bắt đầu bào khoảng một năm về trước.

…

Một vài ngôi nhà đưa ra yêu cầu. Giống với sự đàn áp nhiều hơn là định mệnh: bạn phải lòng nó ngay từ cái nhìn đầu tiên. Và bạn buộc phải sống trong lòng nó.

Khi ngày sinh nhật lần thứ 65 của tôi đến gần, Juliette và tôi đang trong giai đoạn tìm kiếm một ngôi nhà ở vùng nông thôn. Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi nhà này, và ngay lập tức cùng hiểu rằng đó chính là ngôi nhà dành cho mình. Và mặc kệ sự lười biếng của tôi dành cho những chữ cái in hoa, tôi vẫn buộc phải viết nó là Nhà. Tôi viết từ “Nhà” với chữ “N” in hoa, bởi đó là thứ chúng tôi không bao giờ rời bỏ, thứ đã ở đó và chờ đợi chúng tôi, và là thứ mà chúng tôi luôn chờ đợi.

Luôn luôn, vâng: kể từ khi Juliette và tôi trở thành chồng và vợ - một cách hợp pháp là 43 năm, và trên thực tế là 60 năm. Tôi và nàng học chung một lớp ở nhà trẻ. Chúng tôi cùng nhìn thấy nhau vào ngày đầu tiên đến trường, và lập tức phải lòng nhau. Từ ngày đó trở đi, tôi và nàng chưa bao giờ xa nhau.

Juliette luôn luôn là người vợ của tôi; nàng luôn là chị em của tôi, và cả con gái của tôi nữa – dù cho chúng tôi hơn kém nhau một tuổi. Đó là lí do vì sao chúng tôi không có con. Tôi không cần thêm bất kì ai khác trong cuộc đời mình. Đơn giản, vì Juliette là tất cả của tôi.

Tôi đã từng làm giáo viên trung học, bộ môn tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Tôi yêu công việc ấy và thậm chí còn tạo được mối quan hệ tốt đẹp với một vài học trò. Thế nhưng, tôi mỏi mòn chờ ngày về hưu như thể người thần bí chờ đợi cái chết.

Sự so sánh của tôi chỉ là vô thưởng vô phạt. Juliette và tôi luôn khao khát được giải phóng bản thân khỏi những chuyện cơm áo hàng ngày. Trường học, công việc, các sự kiện xã hội – ngay từ hình thái đơn giản nhất của chúng, là quá sức chịu đựng của chúng tôi. Ngay cả đám cưới của chúng tôi cũng chỉ giống như một thủ tục.

Juliette và tôi muốn bước sang tuổi 65, chúng tôi muốn bỏ lại thế giới đằng sau – điều mà cả tôi và nàng đều cho rằng đó là một sự phung phí thời gian. Dù thành phố đã gắn bó với chúng tôi từ khi sinh ra, nhưng tôi và nàng đều muốn sống ở nông thôn, vì tình yêu thiên nhiên thì ít mà vì khao khát chốn tĩnh mịch thì nhiều – sự khao khát giày vò và mãnh liệt tựa cơn đói, cơn khát, và sự ghê tởm.

Khi chúng tôi nhìn thấy Nhà, chúng tôi có một ấn tượng tuyệt vời: đây là nơi mà chúng tôi khao khát hơn tất cả mọi thứ kể từ thời thơ ấu. Nếu như chúng tôi bạo gan tưởng tượng về nó, chúng tôi sẽ tưởng tượng về một nơi quang đãng, giống như nơi này, gần sông, với ngôi nhà này – Nhà – xinh xắn, ẩn dật, dây tử đằng leo kín các mặt tường.

Xa khoảng 4 dặm là Mauves, ngôi làng, nơi chúng tôi có thể tìm mua mọi thứ cần thiết. Bờ sông bên kia là một ngôi nhà khác, không thể nhìn rõ. Chủ mảnh đất nói với chúng tôi đó là ngôi nhà của một vị bác sĩ. Còn gì có thể khiến chúng tôi yên tâm hơn được nữa: Juliette và tôi rút lui khỏi thế giới, nhưng 30 yard kể từ cơ ngơi của chúng tôi là nơi ở của một vị bác sĩ!

Chúng tôi đã không phân vân dù chỉ một khoảnh khắc. Trong một giờ đồng hồ, ngôi nhà trở thành Nhà. Nó không hề đắt, lại không tốn công sang sửa. Cứ như thể vận may đã nhúng tay vào vụ mua bán này của chúng tôi, không còn nghi ngờ gì nữa.


…

(còn tiếp)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Thử nghiệm Đất Cháy – Hai cách đi của cùng một con đường



Bài gọn ghẽ xinh tươi trên website NXB Kim Đồng: NXB Kim Đồng - Thử nghiệm Đất Cháy – Hai cách đi của cùng một con đường

365 ngày sau khi phần đầu tiên được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên “Giải mã mê cung” được ra mắt, phần hai của chuỗi phim với tên gọi “Thử nghiệm Đất Cháy” đã ra rạp, tiếp tục cuộc đào thoát của nhóm thiếu niên giữa thế giới hỗn loạn của thế giới hậu tận thế.
Trong phần hai của bộ phim này, khán giả nhận thấy điều gì? Nhóm Trảng viên, dẫn đầu là Thomas được một nhóm người giấu mặt tự xưng là lực lượng giải cứu đưa về một khu căn cứ giữa sa mạc, ở đây họ gặp được rất nhiều thiếu niên khác cùng chung cảnh ngộ với mình, và từ từ từng bước khám phá ra những bí mật đen tối ẩn giấu đằng sau những cánh cửa kim loại được canh phòng cẩn mật… Những bí mật bị hé lộ dẫn đến một cuộc truy đuổi mới, trong một bối cảnh mới, rộng lớn hơn, và nguy hiểm hơn bất cứ con Nhím Sầu nào từng xuất hiện.
Được dán mác “không dành cho trẻ em dưới 16 tuổi” một cách khá buồn cười, bởi đối tượng độc giả chính của cuốn sách là các bạn thiếu niên nằm trong khoảng độ tuổi này, Thử nghiệm Đất Cháy sẽ khiến người xem rùng mình kinh sợ khi lũ quái vật trong phim – người Hoả thi (Crank) xuất hiện và truy đuổi nhóm nhân vật chính trong những tàn tích chìm trong biển cát. Khán giả xem phim rất dễ nhận ra đám người Hoả thi này có bộ dạng và tập quán săn mồi “na ná” người anh em họ xa tên gọi zombie từng xuất hiện trong hai phần phim kinh dị nổi tiếng “28 Days Later” và “28 Weeks Later” (và sắp tới rất có thể là cả “28 Months Later” – và nếu cứ áp dụng cái lý thuyết đặt tên của “21 Jump Street”, thì biết đâu đấy, sẽ có cả “28 Years Later”). Lũ “vận động viên điền kinh” với khẩu vị đặc biệt kinh dị này chính là những người bị nhiễm Nhật Trùng – thứ virus (hay như trong bộ phim này, được mô tả đầy tiềm năng là một sinh vật pha trộn giữa Alien và ốc Anh Vũ) lây lan khiến con người hoá điên trước khi trở thành những sinh vật khát máu. Nhóm của Thomas, mê cung, WICKD và tất cả mọi thứ trong câu chuyện này được tạo ra để đẩy lùi thứ virus chết người ấy.
Nhưng mọi thứ rõ ràng không đơn giản chỉ là cuộc chiến của loài người chống lại thứ virus kia. Loài người không phải lúc nào cũng là một chính thể thống nhất trong suy nghĩ và hành động. Chính vì thế ngay giữa bờ vực của sự suy vong, khán giả vẫn được tận mắt chứng kiến một cuộc “nội chiến” giữa hai phe phái với quan điểm hoàn toàn trái ngược về cùng một vấn đề. Và ngã rẽ của sự lựa chọn phe phái ấy cũng đánh dấu một bước tiến, hay một ngã rẽ tuỳ ý khán giả lựa chọn, bứt toàn bộ tác phẩm điện ảnh ra khỏi dòng chảy của nguyên tác (tất nhiên vẫn “khéo léo” nhắc lại một số chi tiết quan trọng trong tiểu thuyết để nhắc nhở người xem rằng họ thực sự vẫn đang theo dõi “một bộ phim chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của James Dashner”).
Fan hâm mộ “hạng nặng” bộ ba nguyên tác, với một chút ấm ức và miễn cưỡng, vẫn sẽ nói rằng họ thích bộ phim này, nhưng rõ ràng không nhiều như cách họ yêu thích bộ ba nguyên tác. Đó là một sự thật không thể chối cãi, vì Thử nghiệm Đất Cháy là một bộ phim được làm tốt. Mọi thứ đều diễn ra trơn tru và nhịp nhàng, không có bất kì khán giả nào bị bỏ lại đằng sau trong suốt cuộc hành trình của các nhân vật… Các câu hỏi và câu trả lời, các nút thắt mở tình huống được đưa ra vừa đủ và hợp lý xen lẫn với chuỗi cảnh hành động đan xen dày đặc và đầy kịch tính. Và tất nhiên, bộ phim khép lại đầy duyên dáng, như cái cách người tiền nhiệm “Giải mã mê cung” của nó đã làm, bằng một vấn đề cần phải giải quyết, nghiêm trọng hơn, và vô vọng hơn bất cứ điều gì từng xuất hiện xuyên suốt chiều dài bộ phim. Nói cách khác, thay vì tìm cách kết thúc bộ phim một cách đẹp đẽ và gọn gàng như bao bộ phim nhiều phần khác đã làm, đạo diễn Wes Ball và đội ngũ sản xuất đã kết thúc phần phim của mình bằng cách khiến nó “bung bét” hơn bao giờ hết. Cái kết đậm chất “truyền hình” này sẽ khiến vài người xem thiếu kiên nhẫn (hoặc thiếu thông tin) cảm thấy bộ phim cuối cùng chả đi đến đâu cả, thiếu thông điệp chính, thiếu tính liên kết, không mạch lạc, rõ ràng… và đi kèm với đấy là một tỉ linh một lí do khác nữa để kết luận “Phim chán bome ra!”
Nhưng sự thực là nó đâu có chán?
Giờ chưa phải lúc để nói đến chuyện Wes Ball là công thần hay tội đồ với series Giải mã mê cung khi đã làm ra hai phần phim đi ngày càng xa nguyên tác, nhưng một điều chắc chắn có thể khẳng định, đó là vị đạo diễn này đã tạo ra một tiết tấu nhanh hơn, và vì thế, ít dữ dội hơn cho tổng thể câu chuyện.
Thử nghiệm Đất Cháy có thể nói là phần truyện khắc nghiệt nhất trong cả series. Từ “khắc nghiệt” ở đây không chỉ dùng để mô tả khí hậu của vùng Đất Cháy, nó còn mô tả chính xác cuộc sống của các Trảng viên và cách họ cùng nhau tồn tại giữa vùng sa mạc ấy. Hẳn độc giả của cuốn sách vẫn còn nhớ tình trạng thiếu nước, thiếu lương thực triền miên được mô tả trong từng chương truyện, căn phòng trắng đã tra tấn tinh thần Thomas trong nhiều tuần lễ hay những cái chết bất ngờ xảy ra ngẫu nhiên trên suốt hành trình đào thoát của nhóm thiếu niên trẻ tuổi... Cuộc trốn chạy khỏi căn cứ của WICKD không đơn giản chỉ là cướp vũ khí, chia quân làm hai nhánh và kết thúc bằng việc Aris mở sẵn cửa cho nhóm Thomas, Minho, Newt và Chảo Chiên; cũng như cơn bão kèm sấm sét trên sa mạc không kết thúc êm thấm bằng một cú đánh trượt chàng Minho quả cảm… Có nhiều người thoát ra được hơn thế, và cũng nhiều như thế số người đã chết dọc cuộc hành trình. James Dashner đã viết nên một cuốn truyện, mà rõ ràng nếu mang tất cả những nội dung ấy dựng thành hình ảnh, thì bộ phim có lẽ đã trở thành một trải nghiệm kinh hoàng và đau đớn hơn hết thảy.
Quay lại với bộ phim, sau khi đã không ngớt lời khen ngợi dành cho những gì có trong cuốn sách mà bộ phim không thể truyền tải được, thì cũng nên nói về những điều là thế mạnh của bộ phim mà người đọc không thể thấy được trong cuốn sách. Đó là phần hình ảnh hoành tráng với những đụn cát dài mênh mông, nuốt chửng những tàn tích còn sót lại của một nền văn minh mang dáng dấp con người (đến đây cũng xin chú thích thêm một điều thú vị nữa, đó là từ truyện đến phim, Đất Cháy đã đi từ chỗ một vùng đất không xác định đến San Francisco – hẳn khán giả còn nhớ cảnh cây cầu Cổng Vàng huyền thoại xuất hiện sau ngọn đồi cát. Nhân đây câu chuyện của người viết đã lan man đến đoạn có khi nào ngay sau khi Magneto bẻ đôi cái cầu trong X-Men: The Last Stand thì virus Nhật Trùng đã lan ra toàn thế giới?) và những cảnh hành động mãn nhãn bạn không thể nào hình dung được trọn vẹn nếu chỉ đọc một mình cuốn sách.
Yếu tố hành động liên hoàn cũng những chi tiết bị lược bỏ biến phần phim chuyển thể này trở thành một tác phẩm phiêu lưu giả tưởng gần gũi với phần đông khán giả đến rạp xem phim hơn là một câu chuyện sinh tồn đầy khắc nghiệt. Sự chuyển dịch từ tốc độ chậm rãi của cuốn sách sang sự gấp gáp của bộ phim cũng đóng góp ít nhiều vào việc mang cốt truyện của Giải mã mê cung đến với một số lượng đông đảo hơn những người hâm mộ.
Trong Thử nghiệm Đất Cháy này, khán giả cũng sẽ thấy hai luồng tư tưởng đối lập được thể hiện rõ ràng hơn. Lần đầu tiên sau ba tập sách và một phần phim, ta có được câu trả lời về lí do đứng đằng sau sự lựa chọn của Teresa. Thomas không phải người duy nhất nhớ được câu chuyện về cuộc đời mình. Trong phiên bản này, Thomas không được trả lại kí ức, nhưng Terasa thì có, và điều ấy đã ám ảnh cô trong suốt những năm tháng sau này, dẫn dắt cô đến những quyết định phải trả giá bằng tất cả niềm tin và tình yêu của người cô yêu quý. Và điều đáng buồn nhất, vẫn không thay đổi qua cả phiên bản sách và phim, đó là cả hai phe đều có những lí do chính đáng để biện minh cho quan điểm và quyết định của mình. Những lí do thì đều giống nhau, nhưng nó lại dẫn các nhân vật đến với những lựa chọn quá khác biệt.
Như người ta vẫn hay nói: Kịch bản là của biên kịch, nhưng bộ phim là của đạo diễn; trong trường hợp của Thử nghiệm Đất Cháy, câu nói ấy nên được sửa lại thành “Cuốn sách là của nhà văn, nhưng bộ phim là của đạo diễn”. Wes Ball đã sáng tạo nên một câu chuyện hoàn toàn mới – một tác phẩm phái sinh từ chất liệu là bộ sách đã quá nổi tiếng. Khán giả hâm mộ cuốn sách và cả bộ phim đều đã quen với việc những chi tiết, hình ảnh hay sự kiện vô cùng quan trọng trong cuốn sách bỗng dưng… biến mất hay bị cải biến lại (theo một cách tạm cho là hợp lí) từ những phút đầu tiên của Giải mã mê cung phần nào cũng chuẩn bị sẵn tinh thần cho những điều như vậy trong phần hai này. Nhưng có lẽ chưa lúc nào như lúc này, họ hi vọng sự thay đổi ngày càng xa rời nguyên tác ấy sẽ dẫn dắt họ, và cả câu chuyện tới chỗ thay đổi vận mệnh của những nhân vật họ yêu mến, như cái cách mà không ít fan hâm mộ The Hobbit đã mong Peter Jackson không kết thúc câu chuyện của Kili và Fili như cách Tolkien đã làm. Khó có thể nói Peter Jackson đã làm họ hài lòng, nhưng biết đâu đấy một điều kì diệu sẽ xảy ra trong Lối thoát tử thần.

Bắt đầu và kết thúc luôn xoay quanh câu hỏi: Một nền văn minh được xây dựng trên nền tảng của sự man rợ, thì nên hay không nên đặt dấu chấm hết cho nền văn minh ấy? Bộ truyện, và bây giờ là chuỗi phim Giải mã mê cung, Thử nghiệm Đất Cháy sẽ ám ảnh người đọc cũng như người xem nó bằng cảm xúc dằn vặt đến từ những câu hỏi không dễ trả lời. Một sự dằn vặt tích cực, vì chắc hẳn nhờ vào nó, người ta sẽ có một cái nhìn mới mẻ hơn về mọi thứ xung quanh mình.


S.Ikarus

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Phim chuyển thể, một lối đi an toàn



Với các độc giả của một bộ sách, thì có lẽ ít niềm vui thú và háo hức nào có thể lớn hớn việc họ được thêm một lần nữa thưởng thức lại câu chuyện đã làm họ mê đắm, đặc biệt là khi chúng không còn ẩn sau con chữ trên trang sách mà trở thành những hình ảnh và âm thanh trên màn ảnh. “Chuyển thể” luôn là một động từ có sức mạnh lớn lao trong việc khơi dậy trong trái tim những người hâm mộ ấy nỗi vui háo hức song hành cùng nỗi sợ hãi ám ảnh mang tên “tôn trọng nguyên tác”.

Nói “tôn trọng nguyên tác” là một nỗi ám ảnh tưởng chừng như một sự cường điệu quá đáng, nhưng rõ ràng trên tất cả những yếu tố khác, đó là thứ thường xuyên được nhắc đi nhắc lại, thậm chí là luận điểm chính trong mọi cuộc tranh cãi của fan hâm mộ mỗi khi họ đưa ra nhận xét về một bộ phim được mô tả bằng mẫu câu “Chuyển thể từ…” 

Nhưng điều buồn cười nhất của vấn đề này nằm ở chỗ, trong khi có những fan cuồng với lập luận không thua gì một nhà phê bình điện ảnh, sẵn sàng lớn tiếng chê bai một bộ phim không tiếc lời vì họ cảm thấy phật ý khi đạo diễn và biên kịch đã quyết định lược bỏ hay làm mới một số chi tiết, hay tạo hình nhân vật không đúng với tưởng tượng của họ, thì số đông khác, có thể là những người chẳng biết gì về nguyên tác, hay nằm trong số những fan hâm mộ dễ tính – những người xem phim trên tinh thần cởi mở hơn bạn bè họ, lại thấy đó là một sản phẩm tuyệt vời.

Mới đây thôi, khi phần đầu tiên trong chuỗi live-action của bộ phim Attack on the Titan ra mắt, một lượng khổng lồ các fan hâm mộ đã chê bôi bộ phim là một thảm hoạ, phá hỏng nguyên tác, phá hỏng nhân vật hay bất cứ thứ gì họ có thể nghĩ ra là đã bị hỏng. Lí lẽ của bên “anti” đưa ra là nhà sản xuất đã tự ý thêm bớt, cắt gọt chi tiết, làm thay đổi tính cách nhân vật, khiến họ mất đi “bản chất” của mình. Đại loại, đó là một tội lỗi “không thể tha thứ được”. Đứng trước lý lẽ của phe anti, phe ủng hộ bộ phim cũng có những lí lẽ riêng của họ khi cho rằng bộ phim là một góc nhìn mới lên những nhân vật đã quen thuộc. Thêm vào đó, mối quan hệ giữa các nhân vật vẫn được bảo toàn, tinh thần của tác phẩm vẫn được bảo vệ… Nhiều người nhìn ra được cái người khác không nhìn thấy, nhưng cũng có những kẻ khác tưởng rằng mình là người nhìn ra chân lý, nhưng hoá ra đó chẳng có gì hơn ngoài ảo tưởng của bản thân họ. Nhưng trong những cuộc chiến như thế này, thay vì nói rằng nguyên tác có bị phá vỡ hay không, thì hai phe hâm mộ kia có lẽ chỉ được quyền nói họ thích hay không thích bản chuyển thể, bởi đơn giản đâu ai có thể hiểu chính xác những gì mình tạo ra bằng chính cha đẻ của nó, hay trong trường hợp này, chính là tác giả.

Xét riêng trong tình huống của Attack on the Titan, câu chuyện khá buồn cười ở chỗ chính tác giả của nguyên tác truyện tranh là người đã chắp bút cho kịch bản điện ảnh, và đoàn làm phim cũng đã có những tuyên bố chính thức về việc nội dung phim không giống với những gì độc giả đã biết đến. Chê trách một tác phẩm được nhấn mạnh là hoàn-toàn-không-giống-hệt-nguyên-tác là phá hỏng nguyên tác, có khác nào đang chê một cái nhà cao tầng sao lại không nhìn giống cái biệt thự?

Tất nhiên chúng ta đang nhắc đến Attack on the Titan như một trường hợp may mắn khi cả nguyên tác và tác phẩm chuyển thể đều đạt cả giá trị về hình ảnh và nội dung, và “phá hỏng nguyên tác” là một từ bị dùng quá. Nhưng nền điện ảnh thế giới cũng ghi nhận lại vô số những trường hợp mà sự chuyển thể không làm nên trò trống gì ngoài một vết đen trong sự nghiệp của tất cả những người có dính líu đến nó. Đó là những bộ phim, mà trước khi nói đến chuyện nó có phá hỏng nguyên tác hay không, ta nên bàn đến việc nó có phải một bộ phim tốt hay không đã.

Người yêu thích thể loại siêu anh hùng vẫn còn nhớ Dare Devil (2003) và Green Lantern (2011), hay dân nghiền thể loại truyện kì ảo cho tuổi mới lớn vẫn chưa kịp quên đi The City of Bone (2013). Ba trường hợp này chính là những ví dụ cho việc không phải cứ y chang nguyên tác, y chang nhân vật bê vào phim là tốt. Bộ phim cần có logic của riêng nó. Không có thứ logic này, thì dù có là một bộ phim tôn trọng 100% nguyên tác từng từ từng chữ, thì đó vẫn làm một cơn khủng hoảng mà thôi.

À, mà có lẽ đến lúc ấy các fan hâm mộ sẽ quay ra chỉ trích bộ phim copy y xì nguyên tác mà không có chút sáng tạo nào lắm chứ. Fan mà, họ có quyền. Ý họ là ý Chúa, ai dám cãi.

Tuy chuyển thể là một thể loại phim đỏng đảnh khó nhằn, nhưng thực tế chứng minh rằng đó là một mỏ vàng cho các nhà làm phim, và cả những công ty đứng sau họ. Ai là người có thể quay lưng lại với những fandom hùng hậu sẵn sàng chi tiền cho những thứ mới mẻ, nhất là khi nó thoả mãn niềm ham mê của họ dành cho một nguyên tác nào đó? Ai có thể quay lưng với những bộ phim được săn đón và chờ đợi ngay từ khi nó còn là ý tưởng? 

Đáp án là: Chẳng ai cả.

Khác với những tác phẩm hàn lâm yêu cầu nhiều thời gian và một vốn hiểu biết nhất định (đôi khi cả sức chịu đựng siêu phàm của các dây thần kinh) để hiểu hết, và thường chỉ dừng ở một tác phẩm độc lập, những series truyện giật gân, phiêu lưu giả tưởng hay kì ảo thường đi theo bộ, và mỗi bộ thì thường không ít hơn ba cuốn. Tất nhiên trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta không đề cập đến tính tốt xấu của những tác phẩm này hay tôi không hề có ý định chê bai những series dài tập, vì sự thật là tôi phát cuồng vì rất nhiều trong số chúng, chúng ta chỉ đang nói đến tính đông đảo của chúng về mặt số lượng và quy mô. Quy mô độc giả và quy mô của tác phẩm.

Đến đây hãy tưởng tượng. Nếu bạn là một đạo diễn, hay nhà sản xuất, và bạn đang cần một kế hoạch phát triển lâu dài. Lâu dài và thật vững chãi, thì liệu bạn có thể bỏ qua những tác phẩm kể trên hay không? Một thế giới với hệ thống khái niệm được xây dựng hoàn chỉnh và đã được biết đến, những nhân vật mà sự yêu thích hay ghét bỏ dành cho họ đã được thể hiện quá rõ ràng, cùng với đó là hiệu quả về kinh tế đã nhìn thấy trước… quá nhiều lợi ích hiển nhiên để đi đến lựa chọn chuyển thể một bộ truyện thành phim thay vì mất công sáng tạo từ đầu cả một thế giới khác.

Nếu làm một phép thống kê đơn giản, có thể thấy trong 10 năm trở lại đây, đánh dấu bằng sự khởi đầu của Peter Jackson với bộ ba Chúa Nhẫn, danh sách những chuỗi phim (franchise) nổi tiếng qua nhiều phần được biết đến rộng rãi có vẻ được lấp đầy bởi những cái tên chuyển thể nhiều hơn là “hàng tự chế”:  The Hunger Game, Harry Potter, Games of Throne, Divergent hay mới đây nhất là The Maze Runner…

Việc bạn đọc đã biết trước về nội dung chính của cốt truyện cũng như hệ thống các khái niệm (như trò chơi sinh tồn trong The Hunger Game hay lý thuyết phân chia thế giới trong Divergent) tạo ra một sự thoải mái nhất định cho đội ngũ làm phim trong việc thể hiện câu chuyện bằng hình ảnh. Họ không mất quá nhiều thời gian vào việc trình bày cho người xem hiểu logic của chuyện đang xảy ra trên màn ảnh. Nếu người xem muốn hiểu, họ đơn giản chỉ việc mua sách mà đọc, hoặc lười hơn nữa thì tìm kiếm thông tin về nguyên tác trên một chuyên trang nào đấy. Việc xem phim không đơn thuần chỉ là giải trí, đó còn là cơ hội để tìm hiểu những thứ mới mẻ nằm bên ngoài cuộc sống bình thường của họ. Còn việc của đội ngũ sản xuất là kể lại câu chuyện đã được biết đến kia theo một cách ấn tượng nhất có thể. “Ấn tượng” có thể bao gồm xé rào nguyên tác và đẩy nhân vật vào những cuộc hành trình mới đầy bất ngờ.

Tất nhiên, như đã nói ở phần trên của bài viết, việc chuyển thể một tác phẩm cũng gặp rất nhiều rủi ro. Một trong số đó là ý tưởng về câu chuyện nguyên gốc quá mạnh mẽ trong đầu độc giả, tạo thành một dạng “bạch cầu” sẵn sàng tấn công mọi sáng tạo mới được tiếp nhận sau đó. Sự tẩy chay hay ủng hộ này còn quyết định sự thành bại của bộ phim về lâu dài mạnh mẽ hơn bất kì hội đồng phê bình nghệ thuật nào.

Luật bất thành văn là vậy. Phim hot ra rạp, lại là phim chuyển thể thì không sợ doanh thu thấp, ít nhất là trong một tuần đầu tiên, lỗ lãi bàn sau. Về lâu dài, nếu phim được ca ngợi bởi giới phê bình mà không được khán giả yêu thích, nó sẽ lọt top underrated movie, còn nếu nó được yêu thích rầm rộ mà trái mắt giới phê bình, nó sẽ lọt top overrated. 

Dù chuyển thể là một lối đi an toàn, nhưng về lâu dài liệu nó có phải là một lựa chọn bền vững cho một số thể loại, đặc biệt là dòng phim khoa học giả tưởng và fantasy khi hình như đã quá lâu rồi Hollywood không có một franchise nguyên bản nào ở hai thể loại ấy.  Đã quá xa rồi cái thời James Cameron với Avatar – bộ phim mà chưa biết đến bao giờ khán giả mới được xem tiếp phần hai của nó, “Jupiter Ascending” – một bộ phim viễn tưởng đến từ cặp đôi chị em biên kịch Wachowski bị chê là dài dòng và sến súa... Hollywood đang lục lọi lịch sử vàng son của chính mình với hi vọng tìm ra lối thoát mới cho một thực tại nhàm chán, còn người xem thì dường như đang mất dần sự háo hức khi bước chân vào rạp. 

S.Icarus

 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Chúng ta rồi sẽ ổn thôi hay lời thì thầm từ sâu thẳm những suy tư

“Chúng ta rồi sẽ ổn thôi” là một cuốn sách với kết cấu không quá nhiều bất ngờ, nhưng lại vô cùng nhịp nhàng trong việc đẩy đưa, đánh thức nơi người đọc những bồi hồi thương nhớ.



Gào bắt đầu Chúng ta rồi sẽ ổn thôi bằng cảm giác an toàn, bình yên và dễ chịu. Không còn là Gào – “đấu sĩ” lao vào các cuộc chiến ngôn từ, hiếu chiến và hiếu thắng. Con người ấy hẳn là chúng ta đều biết, nhưng đơn giản, không phải là cô trong cuốn sách này. Cô đã trở thành Gào – “người bảo vệ”, một người quan sát, lắng nghe và chia sẻ với những con người, những cuộc sống vẫn đang diễn ra ngày ngày xung quanh mình. Đằm thắm, dịu dàng, bao dung và cả một chút hoài cổ - đó là Gào chia ở thì hiện tại thể hiện trong phần đầu - “Cảm giác an toàn, cảm thấy bình yên”.
Sau khoảng lặng đủ dài, và đủ sâu để cuốn sách ngay sau đó chuyển mình thành cơn bão. Minh Nhật bước vào Chúng ta rồi sẽ ổn thôi trong tâm trạng cô đơn hoang hoải của một gã cô đơn. Anh sống giữa một thế giới đầy những tạp âm, nhưng không chủ tâm tìm kiếm một giọng nói. Anh chỉ ngồi yên và quan sát, tỉ mỉ mô tả lại những tạp âm ấy bằng những câu từ tuôn ra từ trái tim mình. Vẫn cứ cái vẻ bất cần, vẫn cứ cái giọng điệu nửa gây hấn nữa xoa dịu, vẫn là cái uể oải của một con-mèo-lười Minh Nhật và cái duyên đã theo anh từ ngày đầu cầm bút. Minh Nhật viết phần thứ hai - “Chỉ là những tạp âm” bằng tâm hồn của một gã phiêu bạt. Gã phiêu bạt ấy đã đi quá dài, quá lâu để cần một phút dừng nghỉ, nhưng sự tò mò về cảnh vật trên đoạn đường phía trước lại khiến gã tự nhủ với lòng mình “Chỉ thêm một bước, một bước nữa thôi” và tiếp tục tiến tới. Gã cứ đi, mà không mảy may quan tâm liệu mình có muốn, hay cần đến một người bạn đồng hành.
Minh Nhật và Gào đã tạo ra hai hình ảnh trái ngược về cảm xúc trong nửa đầu cuốn sách. Một người đã chạm được tay vào hạnh phúc trong khi người kia để nó vuột khỏi tay mình; một người luôn chia bản thân ở thì hiện tại và phân tách nó rạch ròi với quá khứ trong khi người kia thì vẫn mãi lơ lửng giữa các mốc thời gian cuộc đời. Một người với đầy những vết thương, còn người kia chính là phương thuốc chữa lành… Nhưng dù đóng vai trò bệnh nhân hay bác sĩ, thì mỗi người trong số họ đều có những vết thương, những góc khuất riêng, để sau cùng tất cả đều thốt lên: “Giá như ai cũng thật sự hạnh phúc như vẻ ngoài của họ”.
Giống như mọi bài song ca sẽ luôn được đẩy lên cao trào và kết thúc bằng sự hòa giọng ở điệp khúc, Chúng ta rồi sẽ ổn thôi khép lại bằng những lá thư qua lại giữa hai đầu đất nước, đầu bên này là Minh Nhật, đầu bên kia là Gào. Không phải tự nhiên mà trong những cuộc điều trị tâm lý, bác ĩ thường yêu cầu bệnh nhân kể về mình. Chỉ khi nhìn thẳng vào quá khứ, vào những sai lầm hay nỗi đau, thì người ta mới thấy được con đường để vượt qua nó. Phần cuối cùng của cuốn sách, “Chúng ta rồi sẽ ổn thôi” – cũng là tựa sách, chính là một “Liệu pháp chưa trị tinh thần” như thế.
Bấy lâu nay người ta vẫn biết Minh Nhật và Gào là hai nhà văn trẻ, mà cụ thể hơn nữa thì cùng bắt đầu sự nghiệp từ một tờ báo tuổi teen. Thế nên trong cuốn sách này, lần đầu tiên họ được thấy Minh Nhật viết cho Gào, và Gào viết về Minh Nhật trong cuốn sách chung của họ. Họ kể cho nhau nghe những câu chuyện cuộc đời mình, những kỉ niệm chung, những suy tư còn giấu kín… một cách bất ngờ và đầy lạ lẫm. Chương cuối cùng của cuốn sách không chỉ khiến cuốn tản văn viết chung này trở thành một cuộc đối thoại giữa hai tâm hồn thay vì hai cuộc độc thoại của nhà văn với những độc giả trong tưởng tượng, nó còn khiến người ta nhận ra đôi điều gì đó, mong manh, hư ảo, rất khó để gọi tên, nhưng cảm giác về nó thì rất thật.
Chàng trai đi khắp nơi, chỉ để đắm chìm trong những kí ức xưa cũ. Anh chưa hề già, anh chỉ vô tình để quên đâu đó niềm vui của tuổi trẻ. Cô gái đặt chân đến một thành phố khác, tìm kiếm sự lãng quên, và cô đã tìm được một thứ còn vô giá hơn sự lãng quên hằng mong muốn ấy. Họ dường như sống ở hai thế giới khác biệt: cô gái với gia đình nhỏ yên ấm, còn chàng trai vẫn cứ loay hoay với cuộc đời mình. Đó là chân dung những “người quan sát và kể lại” trong cuốn sách này. Họ vẫn là họ, trong những thế giới riêng, với những vấn đề riêng, nhưng hai thế giới đó đã cắt qua nhau. Trong khoảng giao cắt của tâm hồn ấy, họ nhìn vào thế giới của nhau, chạm tới những vết thương, và cùng nhau tìm ra một phương thức để chữa lành.
Và rồi từ thẳm sâu của những sẻ chia thấu hiểu ấy, lời an ủi dịu dàng cất lên: Chúng ta rồi sẽ ổn thôi!
S.Ikarus

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Absolutely Anything hay tai hoạ từ cái vẫy tay thần kì


Độc đáo và đầy bất ngờ, bộ phim hài đến từ xứ sở sương mù này sẽ mang đến cho bạn một trải nghiệm hài hước đầy mới lạ.

Có một quy tắc rõ ràng tại các phòng vé. Những phim dự đoán ăn khách hoặc đã ăn khách (trên thị trường quốc tế) sẽ có một lịch chiếu dày đặc, trải dài suốt các khung giờ đẹp, phòng chiếu lớn. Từ đó suy ngược lại, những bộ phim có lịch chiếu “tréo nghoe” vô cùng, suất chiếu thì lẻ tẻ, thời gian chiếu ngắn ngủn và thường được chiếu trước tiên ở các cụm rạp xa trung tâm thì rất có khả năng chỉ được nhập về để: 1) Thăm dò thị trường và 2) Lấp chỗ trống các giờ vắng khách.

Poster phim

Absolutely Anything với sự tham gia của Simon Pegg cũng không may lọt vào danh sách những phim một ngày ba suất chiếu vào những khung giờ buồn cười ấy. Khán giả đến rạp vào khung giờ dở dang, nhìn bộ phim như một trong các lựa chọn bất đắc dĩ hiện ra trên bảng giờ chiếu, rồi mua vé. Thế nhưng Simon Pegg và Absolutely Anything có cách của riêng mình để biến những lựa chọn đầy tính cưỡng ép kia thành một cuộc vui tưng bừng. Và giống như cái tên tiếng Việt của phim, Cầu được ước thấy, Absolutely Anything đã trụ lại được hai tuần giữa cơn bão của Inside Out, Hitman và một vài cái tên lớn khác.



Xin giới thiệu Neil “quyền năng” và chú chó Dennis

Khán giả khó tính ngay từ khi xem trailer của bộ phim đã có thể thấy Absolutely Anything khai thác cốt truyện một người đàn ông được ban tặng sức mạnh của Thượng Đế quen thuộc từ thời Bruce Almighty – bộ phim đã gắn liền nó với tên tuổi của Jim Carrey. Điều khác biệt trong câu chuyện lần này là sức mạnh của Neil Clarke (do Simon Pegg thủ vai) đến từ một hội đồng sinh vật trí tuệ cao hay thứ gì đó giống thế nằm bên ngoài vũ trụ, còn của Bruce đến từ một vị Thượng Đế thực sự. Và một điểm khác biệt nữa, nếu bạn thực sự quan tâm, Neil là người Anh, còn Bruce là một anh chàng Mỹ chính hiệu.
Bạn sẽ tự hỏi, khác biệt về nhân vật thôi thì có liên quan gì đến nội dung phim không? Đáp án là có. Rất nhiều.

Neil Clarke là một giáo viên trung học. Anh được phân công phụ trách một lớp toàn học sinh cá biệt thích làm tất cả mọi việc trong lớp – trừ việc học. Công việc làm anh chán ngán, thầy hiệu trưởng làm anh chán ngán, sự lè phè vô tổ chức của anh làm anh chán ngán, anh bạn đồng nghiệp giáo viên dạy Hóa cũng làm anh chán ngán… Chỉ duy có cô hàng xóm xinh đẹp ở tầng dưới là khiến Neil cảm thấy cuộc đời mình có chút hương vị. Đời Neil chắc hẳn sẽ đều đều trượt dài tới kết như thế nếu một ngày kia anh không đột ngột được ban cho năng lực đặc biệt biến mọi thứ anh muốn thành sự thực chỉ bằng một cái vẫy tay.
Không hề biết đến lời trăn trối kinh điển cha nuôi của chàng Người Nhện Peter Parker thốt lên trước lúc qua đời: Sức mạnh càng lớn, trách nhiệm càng cao, Neil cùng cái vẫy tay đầy quyền năng của mình bắt đầu công cuộc làm rối tung cuộc sống của chính anh và những người xung quanh mình.


Simon Pegg trong vai Neil Clarke và Neil Clarke trong vai Enstein

Absolutely Anything là một bộ phim dễ thương, và duyên dáng. Thưởng thức bộ phim này, bạn sẽ không phải nhăn mặt vì những màn ói mửa hay “sản phẩm thừa” tung tóe khắp nơi cùng những tình tiết bị dàn dựng cường điệu một cách lố bịch hay bất cứ thứ gì thường thấy làm bạn cười sặc sụa. Bộ phim này là chính nó, mọi thứ đều ở mức bình thường, ít nhất là “bình thường” trong tầm quan sát của các nhân vật chính. Nhưng sự bình thường ấy bản thân nó đã là thứ bất thường mang nét hài hước châm biếm sâu sắc, tự động khiến bạn bật ra tiếng cười mà không cần một cọng lông vũ cù dưới bàn chân.


Người ta khó mà kìm được tiếng cười khi thấy Simon Pegg trong cái bộ dạng nhức mắt này

Chúng ta có một hội đồng sinh vật trí tuệ cao luôn băn khoăn vì lí do gì mà các giống loài luôn giới thiệu dân tộc mình trong bộ dạng khỏa thân, coi đó là biểu hiện của sự thấp kém trong khi chính họ là bốn sinh vật trần truồng ngồi quanh một màn hình điện tử, gọi nhau bằng những cái tên ẽo uột của người Trái Đất mà chính họ cũng không hiểu. Chúng ta cũng có một anh chàng Neil nọ tự hào vì đã biến chú chó của mình thành một “sinh vật có trí thông minh”, để rồi đần mặt ra hết lần này đến lần khác khi nhận ra mình rốt cuộc cũng chẳng thông minh lắm… Mượn danh một nền văn minh phát triển cao hơn hay tự nhận mình giỏi hơn, khỏe mạnh hơn, ưu việt hơn, thậm chí chỉ là… đẹp hơn kẻ khác để phán xét họ, buộc họ tuân theo những ý muốn cá nhân của mình là một vấn đề không còn mới. Nhưng sự cũ mòn ấy đã được che giấu khéo léo và hé lộ nhịp nhàng trong suốt chiều dài bộ phim. Để đến khi khán giả thốt lên tiếng “Ơ” ngỡ ngàng, thì họ đã chẳng còn đường lui nữa. Họ đã bị cuốn vào bộ phim, không thể trốn thoát.

Cộng đồng sinh vật trí tuệ bậc cao và… ở truồng

Tất nhiên khi trong một bộ phim có xuất hiện một cuộc tình, thì băn khoăn của khán giả phần lớn sẽ nhằm vào việc giải đáp thắc mắc cuối cùng cặp đôi ấy kết cục sẽ ra sao. Phải nói trước là các nhân vật sẽ nhận được thứ họ xứng đáng. Nhưng để chạm được tay vào phần thưởng ấy, thì trước hết họ phải tìm cách sắp xếp lại tất cả những hỗn độn do mình gây ra trước đã.
Sau vô số những cái phẩy tay “vô tình” và “hữu ý”, cố gắng sửa chữa mọi thứ hay chỉ đơn giản là cho có vẻ có trách nhiệm với thế giới này (trước khi trượt dài trong ham muốn của bản thân), Neil kẹt lại trong mớ bòng bong do chính mình gây ra, loay hoay tìm cách thoát thân mà không được. Và chỉ đến khoảnh khắc này của bộ phim, người xem mới được chứng kiến một màn “tình cảm” thực sự – đủ chiều sâu cảm xúc để khiến họ nhớ mãi, đủ căng thẳng để khiến họ chau mày, và cũng là pha hài hước cuối cùng trước khi bộ phim khép lại.


Mối “quan hệ tay ba” rắc rối trong phim

Như người ta nói, người ngoài cuộc luôn có những đánh giá khách quan hơn về một vấn đề, nếu bạn đang gặp phải một vấn đề khó khăn, ví dụ như Neil với thứ tưởng là quyền năng hóa ra lại là gánh nặng, thì bạn sẽ làm gì? Đáp án của Absolutely Anything là: thay vì cố tìm đường từ bên trong, hãy nhờ ai đó bên ngoài giúp bạn. Anh chàng Neil đi đến quyết định trao quyền năng của mình cho người “có vẻ sáng suốt hơn”.  Ơn trời, anh đã có một quyết định đúng đắn và lớn lao đầu tiên sau 80 phút hỗn loạn.

Trong một đoạn phỏng vấn ngắn, khi được đặt câu hỏi nếu thực sự sở hữu quyền năng cầu được ước thấy chỉ trong một cái vẫy tay, anh sẽ muốn tặng nó cho ai, và lí do của lựa chọn ấy, nam diễn viên Simon Pegg đã không ngần ngại trao nó cho vợ mình. “Bởi cô ấy là người sáng suốt, và cô ấy sẽ biết mình phải làm gì với nó” – đó là lí do của Simon, và có lẽ là tất cả chúng ta sau khi đã tự phá tanh bành cuộc đời chính mình. Còn với chàng Neil, dù có là bất cứ lí do gì, thì ít nhất tương lai của anh và cả nhân loại đã được bảo đảm sau sự lựa chọn ấy. Tất nhiên, vẫn phải chú thích, theo một cái cách chả ai ngờ đến.


Vai diễn chú chó Dennis đánh dấu lần xuất hiện cuối cùng của nam diễn viên Robin Williams trên màn ảnh

Luôn có thứ gì đó để liên tưởng, mọi thứ đều có ẩn ý sâu sa, tiếng cười không chỉ cất lên dành cho những nhân vật khốn khổ đang loay hoay trên màn ảnh, mà sẽ theo chân khán giả ngay cả khi bộ phim đã kết thúc, trở thành một phần góc nhìn của họ đối với thế giới xung quanh… Absolutely Anything đã mang đến cho khán giả thấy nét đặc trưng trong những màn tấu hài kiểu Anh – vốn còn khá lạ lẫm với khán giả Việt. Một kiểu tấu hài dễ gây nghiện với những ai đã từng thưởng thức nó.

S. Icarus