Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

KHÔNG BIẾT ĐÂU MÀ LẦN: Cuốn sách về những hoang mang của tuổi trẻ



Nằm trong số các tác phẩm dự thi Văn học tuổi 20 của NXB Trẻ, Không biết đâu mà lần là góc nhìn vừa hài hước vừa nghiêm túc, vừa tâm huyết vừa uể oải của tác giả (chắc sắp không còn) trẻ Văn Thành Lê về những mặt tối, không chỉ trong ngành Giáo dục, mà còn trong cả cách mà xã hội vận hành.

Truyện xuất xứ từ Baria, ảnh chụp tại Hồ Tây =))


Nhân vật chính trong truyện là “Anh”. Chẳng biết Anh là Anh hay là anh, chỉ biết Anh còn trẻ, Anh mới ra trường, Anh hoang mang trước cái thực tế cử nhân đại học sau bốn năm dùi cái này, mài cái kia, thì chỉ biết ở nhà, đuổi gà, oánh chó, và… dỗi mèo. Thế là Anh đi, Anh đi vì tuổi trẻ thôi thúc, Anh đi vì đó là nơi có công việc đang đợi chờ Anh, Anh còn đi vì lí do gì nữa, thì chắc chỉ có mình Anh biết. Chuyến đi dài đưa Anh đến một vùng ngoại thành, giữa những cánh đồng rau xanh mơn mởn không biết vì rau xanh hay vì thuốc kích thích làm rau xanh có một ngôi trường, và anh sẽ là thầy giáo trong ngôi trường ấy. Chẳng biết Anh có yêu cái công việc anh đang làm hay không, chẳng biết Anh có thấy sướng không, cũng chẳng biết đấy có phải là cuộc đời mà Anh mơ ước hay không, chỉ biết lúc nào anh cũng giơ hai tay lên trời mà thốt lên: “Không biết đâu mà lần!”

“Không biết đâu mà lần” không đơn thuần chỉ là tên sách, càng không đơn giản chỉ là cái câu cửa miệng của nhân vật, mà nó là âm hưởng chung của cả một thế hệ những người trẻ như anh, không, đó là âm hưởng của mọi thế hệ bất kể lão ấu khi đi qua tuổi trẻ. 

Tuổi trẻ ấy là những tháng ngày hừng hực khí thế và háo hức với cuộc đời, khi ta nghĩ trong tay mình là sức mạnh đủ để xoay chuyển cả thế giới. Ta hùng dũng bước đi, và rồi vấp phải cục đá trên đường, ngã vập mặt, vêu mồm. Thế là hết cả sức mạnh tuổi trẻ. Lồm cồm bò dậy, xoa xoa cái cằm tím, cái đầu gối đau, ta quay lưng lại tìm cục đá chết tiệt đã làm mình ngã, và thấy may mắn vì mình mới chỉ vấp phải nó, chứ chưa bị nó đè bẹp. Hòn đá hoá ra là cả một tảng đá, một ngọn núi sừng sững cao vòi vọi... 

Câu chuyện của “Không biết đâu mà lần” cũng na ná như thế, cũng bẽ bàng và nhiều tổn thương như thế. Nó là câu chuyện thường thấy, thậm chí nhan nhản, nhiều như rau dưa cá thịt bày bán ngoài chợ, của những cô cậu cử nhân ra trường và ngơ ngác đặt câu hỏi: “Đời rồi sẽ đi về đâu?”. Đi về đâu không biết là bởi ngay từ đầu đã chọn sai đường đi, hay bởi gặp cảnh ngăn sông cấm chợ? Thôi đúng thật, không biết đâu mà lần!

Không biết đâu mà lần là một câu chuyện đả kích ngành giáo dục. Cũng đúng. Nói nó là một câu chuyện về thứ tuổi trẻ bị “ngược đãi”, chuyện về những nam thanh nữ tú quờ quạng mò mẫm tìm lối đi cho cuộc đời cũng không vừa. Cuốn sách là tất cả của nững thứ ấy, lồng ghép vào nhau, tự làm khổ nhau. Khổ mà không khóc được, chỉ thấy buồn cười. Thật, chẳng biết đâu mà lần.

Ở một cái trường cấp 3 nọ nơi Anh dạy học, có một đàn học sinh ngơ ngác như bò, mà có lẽ là hơn bò, quay cuồng khổ sở trong vòng vây của các thầy cô, còn các thầy cô thì quay cuồng vật vã trong cái vòng vây hãm của chỉ tiêu và thành tích. Cô trò giống như khoai tây cà rốt trong cái nồi nước dùng, còn anh đầu bếp đang cầm thìa ngoáy cật lực cái nồi ấy là ông thầy hiệu trưởng (hình như trong Không biết đâu mà lần, ông thầy hiệu trưởng nào cũng như nhau, cái gì cũng có thừa trừ chuyên môn và tâm huyết), trên ông thầy hiệu trưởng là Phòng, là Sở, là Cục (nghe như thể “cục xà phòng”)… Mọi sự quay cuồng, trắng đen lẫn lộn, nát nhừ… Thật chẳng biết đâu mà lần.

Này thì những cọng hoa xanh mơn mởn xD


Xét về mặt cấu tạo, thì cuốn sách này tiếp tục là một trò chơi chữ nghĩa của Văn Thành Lê, khi anh cố gắng viết ra những câu, tạo ra những ý tứ dài ngoằn ngoèo tựa trò rắn săn mồi vốn một thuở làm mưa gió trên những chiếc điện thoại màn hình đen trắng của thập kỉ xưa xưa. Một câu văn có thể diễn đạt trong mười từ, nhưng đó không phải kiểu viết của Văn Thành Lê. Anh sẽ thêm thắt, nêm nếm, thậm chí là nhồi nhét từ ngữ, ý tứ vào câu văn ấy sao cho nó phải dài gấp đôi, gấp ba… mới đã. Ấy thế mà cái sự dài dòng cố ý đấy lại trở thành nét duyên dáng, thành một dạng “dấu hiệu nhận biết” của Văn Thành Lê. Đọc thì thấy vui vui, đọc xong thì lại thấy… nhơ nhớ. Nhơ nhớ rồi thì phì cười vì không hiểu sao một câu văn lại có thể có nhiều thứ trong đó như vậy, y chang một cái bánh mỳ pate trứng chả ruốc =)). Đọc văn mà tưởng như đang ăn bánh mỳ, cắn ngập răng, vừa no cái bụng vừa sướng cái mồm.

Nhưng trong lòng thì có tí gì buồn man mác.

Chẳng hiểu từ bao giờ những người già, những người đã trải qua cả nửa cuộc đời với vô vàn kinh nghiệm đúc rút được lại không phải nơi để những người đi sau đặt niềm tin hay kính trọng. Họ trở thành đối tượng để chê bai, để đả kích, để nghi ngờ và thậm chí là ghét bỏ. Nên trách ai? Trách những người trẻ non nớt kinh nghiệm là thiếu hụt niềm tin, hay trách những vị lão làng kia, thay vì giúp đỡ những người đã từng một thời hoang mang giống mình thì lại coi chúng như đàn cừu béo để một tay mình thao túng. Kinh nghiệm sống giờ không phải là tri thức, nó đã trở thành một thứ vũ khí để đàn áp những kẻ vẫn còn vô vàn ngơ ngác với cuộc đời.

Thật, chẳng biết đâu mà lần.

Hết.
___________________

Những lời cuối cùng của bài bình luận tả phí lù này, mình viết dành riêng cho mình – cái người vừa trải qua y chang những cung bậc cảm xúc của Anh (một cách tích cực, thì mình cũng là Anh). Mình đọc cuốn sách này như một lần trải nghiệm câu chuyện cuộc đời, không phải của mình, mà là của hơn 2/3 số bạn học cùng mình hồi Đại học. Những khó khăn, những nỗ lực vượt khó của các bạn, mình may mắn không phải trải qua, vì thế nên đã có những lúc mình nhìn nhận họ như những kẻ ù lì chậm tiến, cái gì cũng sợ, cái gì cũng lo, cái gì cũng muốn – dù rằng đôi lúc có được cũng chẳng để làm gì. Mình không thích đánh bạn với họ, mà có lẽ họ cũng chẳng khoái gì một cái đứa vô tổ chức thích gì làm nấy, lại luôn nảy nòi những ý tưởng quái dị giống mình. Mình cũng nghe đôi lời đồn đãi rằng, hình như trong cái lớp đại học năm ấy (vừa tốt nghiệp được 6 tháng) thì có mỗi mình mình là đang đâm đầu vào cái công việc đúng theo ngành học – cũng là cái công việc mình yêu thích nhất.

Thôi thì thông qua cuốn sách này, mình vừa thấy mình, vừa thấy các bạn mình trong đó. Coi như là một cơ hội để hiểu nhau hơn, để nửa này không thấy nửa kia nhạt nhoà, và nửa kia không thấy nửa này chỉ là một con thành phố đành hanh khó chịu. Dù rằng chắc cái nửa kia chả đứa nào điên mà đi bỏ thời gian đọc mấy dòng này, và mình thì chủ trương “Chỉ những ai ăn được sầu riêng mới thấy nó thơm” trong khi mình thuộc số còn lại =)).


Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

CHÂU LỤC THỨ 7 – Cái ôm tưởng tượng dưới tán cây anh đào




Nhà thơ của một “Chân trời cũ” – Hồ Dzếnh trong bài thơ “Ngập ngừng”, đã viết những dòng thơ đầy lãng mạn: “Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu? /Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu.” Sẽ chẳng có tình yêu nếu như không có những luyến lưu trong lần đầu gặp mặt. Đó cũng chính là khoảnh khắc đẹp nhất mà Văn Thành Lê đã nắm bắt lại trong những trang sách của mình.

Cuốn sách của Văn Thành Lê có một cấu trúc lạ. “Châu lục thứ 7” là tập truyện ngắn, nhưng lại cũng giống như những chương đặt cạnh nhau của một truyện dài. Cuốn sách được tạo thành từ nhiều truyện ngắn nối tiếp nhau, mỗi câu chuyện chỉ nằm vừa vặn trong vài trang sách, cũng có thể nói là đủ đầy, mà cũng không sai khi cho rằng chúng hẵng còn dang dở - giống như khi bạn đọc rất nhiều cuốn sách, nhưng mỗi cuốn sách chỉ đọc duy nhất chương bắt đầu; mang đến cho tôi chút hoài cổ thật nhẹ nhàng. Một thứ cảm xúc văn chương mà dường như rất lâu rồi tôi không trải qua, ngòn ngọt, mơ hồ, ám chút màu hổ phách của thời gian, gợi nhớ đến những thập niên đã cũ.

Một cuộc gặp gỡ tình cờ dưới cơn mưa trong nhà chờ xe buýt, cú ngã giữa chợ rau lúc quá khuya về sáng, bài phóng sự tại trại hoa một ngày đầu xuân, hoặc chỉ đơn thuần là một cái chớp mắt của thời gian, khi chàng trai bỏ quên buổi chiều của mình trong bóng hình một cô gái… Những lát cắt nếu xét về mặt thời gian vật lý, thì sẽ chẳng là gì với cả đời người dài rộng, nhưng về mặt tình cảm lại có thể là bắt đầu của một hành trình hạnh phúc, hoặc điểm kết thúc của một cảm xúc họ mà nhân vật chính trong khung cảnh ấy sẽ lựa chọn mang theo suốt cả cuộc đời. Văn Thành Lê viết một cuốn sách về tình yêu, nhưng anh không nói về con đường, anh nói về bước khởi đầu của những tình yêu ấy. Một cú hích nhẹ nhàng, như tia nắng đầu ngày nhuộm ửng làn mây mù trên mặt hồ mùa thu. Không thể nắm bắt, nhưng đủ khiến lòng người xuyến xao.

Đôi lúc, trong cuốn sách viết về những sự khởi đầu, Văn Thành Lê còn viết về cả những kết thúc, những dở dang của một mối tình thầm lặng. Tuy nhiên không phải vì dang dở mà những tình cảm ấy dễ dàng bị lãng quên. Sự dang dở mang lại cho tình yêu ấy những day dứt khôn nguôi, và vì day dứt, nên có lẽ nó sẽ có một vẻ đẹp bất hoại, giống như những tứ thơ đã trở thành tuyên ngôn của một lớp người: “Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề/ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” (Ngập ngừng – Hồ Dzếnh). Con người có lẽ dễ dàng chấp nhận sự nuối tiếc mãi không vẹn toàn hơn đối mặt với nỗi ê chề thất vọng vào phút sau cùng.

Nếu nói tập sách “Châu lục thứ 7” là một tập truyện ngắn, thì đó sẽ là tập truyện viết về những khoảnh khắc của tình yêu. Còn nếu ví nó như một truyện dài, thì đây là cuộc chạy bền của một người nghệ sĩ trong nỗ lực hoạ lại bức chân dung những người trẻ đang yêu. Điều này dễ dàng nhận ra khi đặt những mẩu truyện ngắn trong cuốn sách chồng lên nhau, và tô đậm những điểm trùng lặp. Trong mỗi câu chuyện của Văn Thành Lê, nhân vật chính đều là những người mới ngoài đôi mươi, hoặc vừa đặt chân đến một miền đất hoàn toàn mới lạ (mà trong sách thì là bùng “Baria” – Vũng Tàu) hoặc chính bản thân họ đang trở nên lạ lẫm với những đổi thay đang diễn ra xung quanh mình. Họ trẻ, họ có nhiều hoài bão, họ có những thở than và trăn trở về cuộc đời, nhưng không phải vì thế mà họ mất đi sự lạc quan, và trái tim hai mươi tràn nhựa sống. Những nhân vật ấy mang trong mình hai con người: một người trưởng thành đầy thực tế, và cả một gã mơ mộng si tình.

Giữa cuộc đời bộn bề lo toan, vẫn có một chàng trai trốn dưới tán cây giá tỵ ngắm nhìn một cô gái, vẫn có một chàng trai khác đi dưới hàng cây anh đào mà tưởng tượng được ra cả một câu chuyện tình… Bằng cái giọng kể bình thản, dịu dàng, Văn Thành Lê đã đưa người đọc đến một khung cảnh rất khác, nằm giấu mình đâu đó giữa hiện tại, nơi những người trẻ tuổi sống thật chậm, nghĩ thật sâu, và trao đi yêu thương không cần điều kiện. Giống như ý văn tôi đã đọc được trong một cuốn tiểu thuyết tình yêu, đại ý nếu ví tình yêu giống như một bông hoa, thì chỉ cần bông hoa ấy nở, là tuổi thanh xuân đã vô cùng mãn nguyện. “Chẳng nhẽ đã đơm hoa là cứ phải kết trái, chẳng lẽ cứ làm cá là phải biết bơi?”. Tuổi trẻ có những cách, đôi lúc thật cực đoan để yêu thương một ai đó ngoài bản thân mình.

Đôi lúc, giữa những trang sách của Văn Thành Lê, tôi có một ý tưởng, là chuyện gì sẽ xảy ra, nếu anh là một hoạ sĩ thay vì một nhà văn viết sách. Nếu xâu chuỗi tất cả những bối cảnh đã từng được anh miêu tả trong “Châu lục thứ 7”, ta sẽ thấy mình như đang được xem một bộ phim tài liệu – tình cảm (nếu thực sự thể loại này có tồn tại) tuyệt đẹp của thiên nhiên đất nước và con người. Từ một nhà chờ xe bus giữa cơn mưa bóng mây xối xả, mặt biển Baria lấp lánh trong ánh nắng tới một xứ Đạo vừa hư vừa thực, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết được ngăn cách bởi 15 phút đồng hồ, từ một khu chợ đầu mối ban đêm lấp loá ánh đèn cho tới một hòn đảo nổi ngoài biển xa, từ một buổi chiều dưới vòm hoa giá tỵ xanh biếc cho tới trại hoa rực rỡ của một ngày cuối đông... Mỗi khung cảnh là một bức tranh sinh động được xây dựng nên bằng những từ ngữ, tưởng như nằm yên trên trang giấy mà lại hoá rực rỡ âm thanh sắc màu. Và tan hoà vào khung cảnh ấy, là những câu chuyện tình chớm nở xanh xanh màu hi vọng, cũng đẹp tuyệt vời như chính phông nền phía sau.

Khiếu hài hước cũng là một nét duyên dáng không chỉ trong “Châu lục thứ 7” mà còn trong nhiều tác phẩm khác của Văn Thành Lê. Cái hài hước ấy không đến từ tình huống, nó đến một cách rất tự nhiên từ góc nhìn của các nhân vật. Mỗi góc nhìn khác nhau sẽ mang đến một “hiện thực chủ quan” khác nhau. Chính vì vậy mà một điều “kinh thiên vĩ địa” với kẻ này lại chỉ là cơn gió thoảng qua với kẻ khác, cuộc gặp gỡ khiến lòng người này bâng khuâng xao xuyến có lẽ lại chẳng là gì trong ánh mắt của kẻ kia. Có lẽ để tránh cho nhân vậy những sự bẽ bàng không đáng có ấy, Văn Thành Lê đã kết thúc câu chuyện ngay trước khi nó thực sự kịp bắt đầu. Quay trở lại vấn đề tôi đang nhắc tới, góc nhìn hài hước về những tình huống trong đời sống hàng ngày được mô tả trong cuốn sách càng tô đậm hình ảnh một người trẻ lạc quan, yêu đời và giàu lòng nhân ái. Tất nhiên, vẫn có những chỗ đây đó, sự hài hước của Văn Thành Lê đi quá giới hạn của sự duyên dáng, nhưng tựu chung lại, nó vẫn là một nét đặc sắc đáng yêu.

Tôi xin khép lại bài viết này bằng hình ảnh con đường hoa anh đào được nhắc đến trong truyện ngắn “Chuyện tình trong trí tưởng” – mẩu truyện “áp chót” trong “Châu lục thứ 7”. Chàng trai trong câu chuyện nhìn thấy một cặp trai gái đi dưới tán cây anh đào (tất nhiên là khác với loại hoa anh đào “xịn” trồng ở xứ Phù Tang) và đã tưởng tượng ra cả một câu chuyện tình yêu dành cho họ. Nhân vật chàng trai trong câu chuyện ấy dường như là đại diện cho tất cả các nhân vật đã từng xuất hiện trong cuốn sách này. Anh ta vừa đủ tò mò để chú ý tới một cặp đôi lướt qua, vừa đủ kiên nhẫn để theo dấu họ suốt cả chặng đường, vừa đủ niềm tin và lãng mạn để tưởng tượng ra một câu chuyện tình yêu mà hai người họ là nhân vật chính, và anh ta cũng đủ nhân hậu để không nghi ngờ họ dù chỉ trong một phút giây. Và câu chuyện tình mà anh ta nghĩ ra, chắc chắn ít nhiều cũng ẩn chứa trong đó ước mơ của anh ta về một tình yêu chân thật. Tình yêu ấy vừa chân thực hiện hữu, vừa mơ hồ kì ảo, lãng mạn và diệu kì như một cái ôm tưởng tượng dưới tán cây anh đào.


Phan Hải Anh.

172 GIỜ TRÊN MẶT TRĂNG: PHÍA TỐI KINH HOÀNG



Từ bộ tiểu thuyết giả tưởng đầu tiên về đề tài du hành vũ trụ của Jules Verne năm 1865 (tựa đề De la terre à la lune – tạm dịch: Từ Trái Đất lên Mặt Trăng) cho tới bộ phim câm năm 1902 của đạo diễn Georges Méliès có tên Le Voyage dans la Lune (tạm dịch: Hành trình đến Mặt Trăng), và rất nhiều những tác phẩm văn học hay điện ảnh sau này, loài người dường như có một khát khao không bao giờ vơi cạn được khám phá và am hiểu tường tận Mặt Trăng - tinh cầu bí ẩn nhưng cũng quá đỗi thân quen. Và cuốn 172 giờ trên Mặt Trăng của nhà văn người Áo – Johan Harstad có thể coi như một tiếp nối đầy ấn tượng.

172 giờ trên Mặt Trăng diễn ra trong bối cảnh NASA khởi động lại chiến dịch đưa con người quay trở lại khám phá Mặt Trăng, tiếp tục sứ mệnh bị bỏ dở từ thập niên 70. Trong lần quay trở lại này, phi hành đoàn không chỉ bao gồm các phi hành gia được đào tạo bài bản mà còn có ba thiếu niên được lựa chọn ngẫu nhiên trong số hàng triệu thiếu niên đáp ứng đủ các yêu cầu. Nhóm thiếu niên được đưa vào chương trình một mặt nhằm lôi kéo sự chú ý của giới trẻ và truyền thông, trong nỗ lực phục hưng lại ngành nghiên cứu tưởng như đã trôi vào dĩ vãng này. Một kế hoạch được tính toán vô cùng tinh vi, tưởng chừng như không có bất kì một sai sót, tất cả, ngoại trừ việc không một ai biết chính xác điều gì đang chờ đợi họ ở Biển Yên Bình – vùng biển cạn trên bề mặt Mặt Trăng.

Ba thiếu niên gồm Mia (người Na Uy), Midori (người Nhật) và Antoine (người Pháp) là những người giành được tấm vé lên Mặt Trăng đầy mơ ước. Tuy nhiên với mỗi người trong số họ, sứ mệnh này lại có những ý nghĩa rất khác nhau. Với Mia – cô ca sĩ của một nhóm nhạc Rock địa phương, thì đó là một cơ hội để đưa sự nghiệp của mình sang trang mới, trong khi với Midori – cô gái với khát vọng nữ quyền, Mặt Trăng là tấm vé giải thoát khỏi cuộc đời trưởng thành nhàm chán đã bày ra trước mắt; còn với Antoine, sứ mệnh này lại là một cuộc đào thoát khỏi mối tình vô vọng. Mỗi người trong số họ đều sống những cuộc đời khác nhau, lâm vào những bế tắc khác nhau, nhưng tựu trung lại, Mặt Trăng đều xuất hiện như một lối thoát, một con đường mới đầy tươi sáng.




Nhưng như cả ngàn năm nay cuộc đời đã luôn vận hành như thế, những kẻ tiên phong luôn là những kẻ phải trả giá đắt. Mia, Midori và Antoine là những thiếu niên đặc biệt, họ được trao cho cơ hội làm những thiếu niên đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng, được nhìn thấy điều mà hàng tỉ người không có cơ hội được thấy, được sống một cuộc đời mà chưa ai từng được sống… và cả những hiểm nguy chưa ai tùng đối mặt. Chuyến đi lên Mặt Trăng sẽ là một trải nghiệm để đời với từng người trong số họ, nhưng với điều kiện, họ có thể tìm được đường về, như kẻ tiên phong kia cuối cùng cũng đến được với chân lý.

Đứng trên một Mặt Trăng hoang vu, bị đe doạ tính mạng bởi những kẻ lạ mặt với sức mạnh siêu nhiên, những thiếu niên cam đảm ấy sợ hãi nhất điều gì? Sợ hãi những kẻ ngoài kia, sợ hãi cái chết bất ngờ, hay sợ hãi chính những con người trên Trái Đất, những kẻ đã biết trước mọi nguy hiểm nhưng vẫn đẩy người ta vào chỗ chết, chỉ để kiểm chứng lại những học thuyết và tham vọng điên rồ của mình? Đến phút cuối cùng, trước lằn ranh sinh tử, bị phản bội, bị nuốt chửng bởi nỗi sợ hãi, thì thứ đáng sợ nhất có lẽ là hi vọng. Hi vọng cho người ta động lực, nhưng hi vọng lại là thứ huỷ hoại người ta nhanh nhất vì nó rất dễ sụp đổ, như cách Mia đã nghĩ. Cô không tin vào hi vọng, cô tin vào bản thân mình, tin vào cuộc đấu tranh sinh tồn trong khu căn cứ hoang tàn tĩnh lặng. Và niềm tin ấy đã giúp cô “gần như” chiến thắng. Có  quan điểm xã hội học cho rằng, tin vào bản thân mình cũng là một hình thức của sự sợ hãi và mất niềm tin, khi con người ta không biết đặt niềm tin vào ai khác ngoài chính mình. Nhưng trong đa số các trường hợp, niềm tin vào bản thân chính là cơ sở cho mọi niềm tin khác, và có lẽ là thứ niềm tin còn lại sau cùng khi người ta lâm vào tuyệt vọng.

Có thể coi 172 giờ trên Mặt Trăng vừa giống như cuốn nhật trình ghi lại quãng thời gian phi hành đoàn tàu Ceres thực hiện sứ mệnh trở lại Mặt Trăng, lại vừa giống với một cuốn nhật ký lưu giữ lại từng sự kiện, từng suy nghĩ của mỗi người trước và trong khi tham gia cuộc hành trình ấy. Một cuốn nhật ký dở dang, và một cuốn nhật trình chết chóc.

Như Johan Harstad đã kể lại trong phần Lời tác giả, trong quá trình tìm kiếm một sự sống khác ngoài không gian, một “đồng minh” để thấy giống loài mình không cô độc, con người đã gửi ra ngoài vũ trụ hai cuốn băng ghi lại những thông tin như cấu trúc sinh học, âm nhạc và nghệ thuật, những thứ đủ để hiểu được về loài người và nền văn minh họ đã xây dựng nên. Những cuốn băng ấy giống như một lời chào đón nhiệt thành gửi tới những người bạn phương xa, nhưng đã bao giờ bạn đặt ra giả thuyết rằng, đó chính là lời mời gọi cho một cuộc xâm lăng từ bên ngoài Trái Đất?

Điều không tưởng ấy là một mối đe doạ thực sự. Sau hàng triệu năm tiến hoá, con người có lẽ đã mất đi sự cảnh giác bản năng, trở nên kiêu ngạo, tự phong mình là những kẻ chinh phục. Chúng ta đã đánh mất đi sự khiêm nhường trước những thế lực vượt ngoài tầm hiểu biết. Bi kịch bắt đầu từ khoảnh khắc ấy. Vũ trụ vô cùng bao la, và con người chỉ là một dấu chấm nhỏ nhoi dễ dàng bị xoá bỏ. Chúng ta không biết rõ về khoảng không gian vô tận ngoài kia như chúng ta hằng tưởng, sự kiêu ngạo và vốn hiểu biết hữu hạn ấy, cuối cùng sẽ dẫn dắt loài người đến bờ vực diệt vong, không chỉ trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng hơn 300 trang này, mà còn trong cả cuộc đời thực chúng ta đang sống. “Tất cả các ngươi sẽ chết”, và chính con người đã tự đào hố chôn mình.

172 giờ trên Mặt Trăng được ca ngợi bởi sự “hoài cổ” khi xây dựng bối cảnh bằng chất liệu từ những bộ phim du hành vũ trụ những năm 80. Sự hoài cổ ấy không chỉ đơn thuần là phông nền bối cảnh, nó còn là mô hình xây dựng cao trào với mở đầu dài trong bình lặng, kịch tính tăng dần về nửa cuối trước một cú chốt bùng nổ. Phần đầu truyện diễn ra khá chậm, phải mất tới hơn một nửa cuốn sách, bạn đọc mới theo chân nhóm thiếu niên đến được Biển Yên Bình nơi đặt căn cứ DARLAH 2 – một sự chuẩn bị tâm lý vừa đủ để bạn đọc trở nên yêu quý các nhân vật, và sẵn sàng sát cánh bên họ trong cuộc phiêu lưu tưởng tượng. Nhưng từ sau thời điểm ấy, tiết tấu  truyện trở nên dồn dập, nhanh chóng với những cú ngoặt bất ngờ - có thể tưởng tượng giống như tốc độ một quả tên lửa rời bệ phóng khiến người đọc, đôi khi là cả nhân vật, không có đủ thời gian để kinh hoàng.



Bên cạnh một kết cấu truyện được xây dựng công phu, thì sự hoà trộn giữa các thể loại cũng là một nét vô cùng đặc sắc. 172 giờ trên Mặt Trăng được sáng tác trên hai thể loại chính là khoa học viễn tưởng và kinh dị, xen lẫn một chút tâm lý tuổi mới lớn. Trong khi nửa đầu tác phẩm tập trung vào thể loại khoa học viễn tưởng và tâm lý, kinh dị chỉ lướt qua trong một vài chi tiết nhỏ, đủ đề người đọc giật mình thì trong nửa cuối, tác phẩm gần như là sự độc diễn của thể loại kinh dị, mà trong đó, khoa học viễn tưởng chỉ là xúc tác để câu chuyện đạt được sự ghê rợn cần thiết. Tất nhiên, tuy đáng sợ, nhưng cũng nhiều suy tưởng và giàu cảm xúc yêu thương. Johan Harstad đã viết nên một câu chuyện lạ kì, mà trong đó, anh xây dựng nên mỗi nhân vật với những câu chuyện đời khác nhau; những câu chuyện mà khi chúng kết thúc, ta có thể không hiểu đến tận cùng, nhưng đều tin vào tính chân thực của nó cũng như có được cho mình những lí do để tha thứ cho họ dù đã phản bội, hay lừa dối ta.

Nếu như Jules Verne ở thế kỉ thứ 19, thời đại của các mạng khoa học công nghệ, của cơ khí phát triển, của một kỉ nguyên khám phá nhìn Mặt Trăng như một miền đất hứa, một môi trường hoàn toàn mới lạ để chinh phục, thì ở thế kỉ 21 của công nghệ số, nhà văn người Na Uy Johan Harstad, hoà chung vào dòng suy tưởng của những nhà văn đương đại, lại nhìn tinh cầu này bằng một sự hoài nghi xen lẫn nỗi kinh sợ. Đây cũng là xu hướng mới trong sự phát triển của dòng truyện khoa học viễn tưởng, khi mọi thứ đều trở nên cũ mòn, và loài người dường như đang mất đi cái nhìn lạc quan vào cuộc sống quanh mình.


Phan Hải Anh

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Ăn trưa một mình



Chắc chú Keanu Reeves cũng chỉ đến như mình là cùng =)). 

Dạo này thân thể phân làm hai nửa (đùa thôi), sáng một nơi, chiều một chốn. Hai nơi chốn đều ở tuốt luốt hai đầu của thành phố. Sáng đi Hoàng Cầu, chiều đi An Dương, trưa được nghỉ 90 phút thì dành gần 2/3 thời gian ấy cho việc di chuyển qua lại giữa hai nơi.

Nhớ hồi tháng mười đi làm ở Công ty truyền hình Viettel chỗ Trung Văn, ngày đi bằng 2/3 bây giờ, ăn ngủ nghỉ đầy đủ các thứ nhưng lúc nào trong đầu cũng ám ảnh cái quãng đường “xa vãi tè”, giờ lang thang cả ngày trên đường thì chẳng còn thấy thế nữa. Vì suốt ngày được một mình đi ngoài đường.

Mình là cái loại thích lủi thủi một mình, lang thang đi qua mấy cái phố nhiều cây xong nghĩ bâng quơ này kia.

Trước nay mình vẫn có một cái “break-place” – một từ tự chể của mình, ý kiểu cái nơi để trốn đến bất kì lúc nào mình cần nghỉ trưa để chiều đi đâu đấy. Nhưng từ lúc biết cô mình sắp đi lấy chồng, xong mình là người cuối cùng được cho biết về kế hoạch cuộc đời cô ý, thì tự dưng mình chẳng còn cảm giác được nơi ấy chào đón nữa. Lòng cứ thấy trống trống và đau đau. Suốt tuần đầu tiên của cái cuộc chạy việt dã điên khùng mà mình đang tham gia này, trưa nào mình cũng lang thang ăn cái này cái kia, đủ thứ vớ vẩn mà mình ao ước, gì thì túi cũng rủng rỉnh mà. Thế nhưng ngủ một giấc qua ngày chủ nhật, sáng thứ hai tỉnh dậy thì thấy chẳng muốn đến những chỗ đấy nữa. Thế là mình chẳng còn biết làm gì vào buổi trưa, ngoài một cái hộp Knor màu vàng vàng đựng cơm nguội từ bữa trước và bất kì thứ gì kiếm được trong tủ lạnh. Tất cả buộc trong tấm khăn Tenugui màu đỏ cam hình đàn cá koi cô bạn thân từ bé mua tặng. Không hẳn là mình hết tiền – mình hoàn toàn có thể xin bố mẹ, mình chỉ chán thôi. Chán tất cả mọi thứ trên cái cõi đời này.

Thế là hai ngày hôm nay, trưa nào mình cũng mò ra hồ Tây, ngồi đại ở một cái ghế đá nào đấy, xong mở hộp cơm ra ăn. Tiết kiệm được khoảng 30 phút không suy nghĩ, không chán nản này kia. Hôm đầu tiên lúc mình ngồi ăn thì có một con bé được mẹ nó đèo đi ngang qua, nó cứ nhìn mình chằm chằm kiểu kinh ngạc. Tự dưng mình lại nhớ đến hồi xưa mình cũng từng nhìn mấy cái người ngồi ăn một mình bằng ánh mắt như thế. Kiểu thương thương buồn buồn vì nghĩ họ hẳn cô đơn lắm, nhưng giờ đây, khi mình là người ngồi ăn trên cái ghế ấy, thì mình nhìn nhận nó như một thú vui của sự tận hưởng, dù nhìn thì hơi khổ khổ. 

Hôm nay bữa trưa của mình có thêm thành phần mới là dưa chuột bao tử. Mình thề là sẽ có một ngày nào đấy mình sẽ ăn hết cả một hũ dưa chuột bao tử cho đã cơn thèm, dù rằng như vậy hình như không tốt cho sức khoẻ lắm. Còn câu chuyện buổi trưa hôm nay, hũ dưa chuột làm mình tí thì khóc oang oang vì nó không mở ra được. Nhưng may là cái cơ thể thiếu nước trầm trọng của mình cũng không cần phải mất thêm ml nước nào qua đường mắt vì cuối cùng cái nắp lọ cũng bung ra, và mình đã ăn đến ba quả dưa chuột muối chua chua giòn giòn. Sau này có làm cái thống kê thực phẩm nào khiến bạn hạnh phúc, thì mình sẽ liệt kê dưa chuột bao tử vào top đầu.

Chuyện cuối cùng mình muốn kể trong cái bài lảm nhảm viết trong giờ nghỉ trưa này là khi mình ăn cơm xong và ngồi nhìn hồ Tây bằng cặp mắt húp híp vì gió tạt, mình chợt nghĩ là tương lai có khi nào mình sẽ là một trong những ông bà gia cứ lang thang cả ngày ngoài ghế đá công viên hay trên đường không, vì bây giờ mình cũng thấy mình lang thang và lẩm cẩm lắm rồi.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

2014/11/28 - Cũng không hẳn là lịch sử, cơ mà cứ note lại thôi :P


Có lẽ mình sẽ review cuốn này vào một dịp nào đó, nhưng không phải bây chừ xD

Chuyện kể lại rằng vào năm mình học lớp 7 hay 8 gì đó, cái thời mà thế giới của mình chỉ thu gọn trong những bộ phim cháy nổ ì xèo trên VTC 3, báo Hoa học trò từ những năm 90 và kênh VOV 3, mình cũng có ôm mộng văn chương (bây giờ thì không chắc?) này nọ. Đỉnh cao của cả một quá trình bôi biết gạch xoá những ngày ấy là một tập bản thảo nhỏ nhỏ xinh xinh được chép tay rất nắn nót trên một xấp giấy xé ra từ vở. Tập bản thảo này có tên là Blue-eyes Baby - kiểu tên một loại hoa màu xanh xanh mà hồi đấy mình rất thích (mà thực ra cũng chưa bao giờ được chạm tay vào chúng nó, vì hình trên báo mà), được bỏ phong bì đề tên người gửi là ABC con bố mẹ XYZ (hồi đó đây là chuyện khá thịnh hành, ôi ngày xưa) đàng hoàng và theo dự định là sẽ được gửi cho Hoa học trò.

Không cần phải google đâu ạ, đây chính là cái hoa blue-eyes baby đấy!


Hồi đấy xóm bên cạnh (mà bây giờ phải gọi là tổ dân cư bên cạnh) có một cái nhà văn hoá, trước cửa nhà văn hoá là một cái thùng thư màu vàng cũ cũ. Mình đã phải lấy can đảm cả một tuần dài mới dám đến bỏ thư vào thùng. Mình vẫn nhớ đấy là một ngày sau cơn mưa rào, trời lành lạnh man mát. Mình nín thở đút thư vào hòm, chuẩn bị tinh thần là nếu hối hận sẽ rút ngay lại =)). Nhưng rồi mình cũng thả tay. Nhưng trái với tưởng tượng của mình, lá thơ không rớt đến "xạch" một cái khi chạm đáy thùng hoặc rơi đè lên những lá thư khác mà phát ra tiếng "tõm" rất khó hiểu.

Và đấy là bản thảo truyện "một đi không trở lại" đầu tiên của cuộc đời mình.

Sau cái "sự cố hòm thư" đấy, mình lại tỉ mẩn ngồi chép lại bản thảo truyện ngắn nọ, nhưng lần này không hiểu sao lại hết gấp đôi số giấy so với lần trước (oạch). Chợt nhớ đến một câu thơ dược dẫn lại trong bài cảm nhận Mộ đom đóm trên 4A.M: "Cánh thư mỏng xanh như tàu lá". Thư của mình lúc đấy chắc phải là tàu lá chuối. Lần này cẩn thận hơn, đã chọn bưu điện ở ngã tư Tân Xuân (giờ đã thành trụ sở chuyển phát nhanh và không nhận gửi thư nữa) cũng với cái thùng thư màu vàng. Thư của mình tí thì không lọt cái khe vì dày quá =)). Nhưng cuối cùng nó vẫn vừa, là tiếng "xạch" chứ không phải "tõm".

Và mình chẳng bao giờ nhận được hồi âm từ những lá thư ấy.

Ước gì mình được gửi một dạng thư xuyên thời gian hay gì đó đại loại thế đến con bé mình lúc đấy, để nó biết cuối cùng mình cũng được Hoa Học Trò trả lời, mà còn hoành tráng quá mức tưởng tượng. Chắc con bé mình lúc đấy sẽ vui lắm, sẽ hạnh phúc lắm, sẽ thấy ý nghĩa lắm. Con bé mình lúc đấy cần sự kiện này hơn mình, nhưng biết làm sao được, vì lúc đó nó đã tu luyện được như mình bây giờ đâu =)). Với mình bây giờ, sự kiện này vẫn khiến mình sướng đến bay cả lên được, nhưng niềm vui ấy không bền, và nó mang nhiều ý nghĩa về sự chứng tỏ bản thân hơn - gì thì trong cái sự nghiệp viết lách úi xùi của mình, thì đây là truyện ngắn đầu tiên được đăng, và cũng đồng thời là bài viết đầu tiên được in ra sách giấy! Ôi ôi ôi ôi ~ Sướng chết đi được ~ Á á á á á ~

Thôi, thực ra mình thích chết đi được. Á á á a a a a a a a ~
Mà như cái cách mình hay nói, một chút show-off cũng chẳng có hại gì (câu này dẫn lại từ anh Kỳ Nam).

"Em nó" đây! 


Sơ bộ thì mình vẫn chưa dám đọc lại vì... ngượng, cơ mà tổng thể thì nhìn trái nhìn phải xong nhìn mình thấy chẳng liên quan gì đến những truyện còn lại cả ;A;. Đại để Áo dài chính là ký ức kinh hoàng - đúng hơn là sự kiện vừa buồn cười vừa háo hức vừa sợ vừa hoang mang hồi đầu lớp 10 của mình. Tất cả sự kiện mà nhân vật gặp phải trong truyện đều là những chuyện mình gặp phải, trừ đoạn mình đã "đánh tráo" chiều cao và chiều rộng của nguyên mẫu để đưa vào nhân vật =)).

Cũng vẫn là tốn vải thôi, nhưng tốn kiểu khác =))

Anyway, mình viết post này để khoe các bạn, và những mong các bạn sẽ đi mua sách để đọc truyện của mọi người, luôn tiện thì đọc cả của mình xD.

Cà Cà

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

HỌC SINH CHÂN KINH: Câu chuyện phía bên kia dải ngân hà





“Học sinh chân kinh” là thứ gì đó to lớn hơn một thể loại “tạp phí lù” tất cả các thể loại: hài hước, triết lý, hành động, tâm lý… nhiều khi còn vượt cả kinh dị. Một câu chuyện vừa quen thuộc vừa “chả liên quan” sẽ mang lại cho bạn nhiều hơn là một sự giải trí triệt để.
Ở một cái trường cấp ba tên Khổ Qua được lãnh đạo bởi một thầy hiệu trưởng vô cùng đường bệ, đeo kính râm, mặc áo tứ thân và toàn nói những… cái đâu đâu nọ, có một cái lớp 10 Bê-ta với  một đàn đực rựa cùng đám con gái vừa xấu vừa dữ dằn. Lớp 10 Bê-ta được chủ nhiệm bởi thầy Nhân vừa nhân hậu vừa bao dung với tụi học trò đang tuổi ăn tuổi phá (ước gì tâm hồn thầy tìm được một ngoại hình tương xứng). Mở đầu cũ mèm, trường nào lớp nào chẳng thế. Nhưng khoan đã, bạn trẻ đừng vội nhầm. Vì đám 10 “Bê-tha” này, cả thầy Nhân cùng tất cả học sinh của cái trường Khổ Qua ấy toàn là người ngoài hành tinh cả đấy (tất nhiên tôi đang viết với điểm nhìn từ Trái Đất). Họ ở tuốt tận Xứ Bưởi, hành tinh Trái Chuối cơ. Mà Trái Chuối mới Trái Đất cách nhau non 10 tỉ năm ánh sáng chớ đùa. Nên tất cả chỉ là trùng hợp, trùng hợp thôi.
Một cái mở đầu tưởng chừng đã quá sáo mòn cho mọi câu chuyện bỗng trở thành Vô tiền khoáng hậu vì cú “twist” ngoạn mục ở phút cuối hé lộ cho bạn đọc nhiều hơn lời gợi ý chình ình trên bìa sách, rằng đây là bộ “Truyện tranh Việt Nam dành cho tuổi teen”.


Ban đầu, tôi cũng không có nhiều thiện cảm với những thể loại truyện tranh hài giống như “Học sinh chân kinh”, bởi tôi mong đợi một thứ gì đó ý nghĩa hơn việc các nhân vật cứ cười hềnh hệch rồi học được một bài học nhớ đời, rồi thôi, rồi lại cười hềnh hệch triền miên như một lũ vô sỉ không não. Nhưng rồi một luận điểm của anh Tuấn Trong Trắng (a.k.a Alex Tuấn trưởng nhóm B.R.O) tình cờ được nhắc đến: Đôi khi người ta cũng nên làm một số việc không cần dùng đến não.
Góc nhìn mới khiến tôi, rốt cuộc cũng đi đến chỗ một mặt cảm nhận hết được những cái hài hước bông phèng khùng dở mà đội ngũ tác giả đã dày công dàn dựng nên, một mặt nhận ra những ẩn ý thâm sâu trong từng câu chuyện. Việc các nhân vật qua đến 15 tập truyện vẫn cứ “u như kỹ” đâu có gì quan trọng, quan trọng là thái độ của người đọc cuốn truyện ấy đã thay đổi như thế nào. Chuyện hết, nhân vật thay đổi, ta yên tâm thở phào vứt “phạch” cuốn truyện sang một bên rồi ngồi rung đùi chờ tập tiếp theo, vẫn cứ sống bê tha như trước khi ta đọc truyện – nếu sự việc tiến triển theo hướng ấy, thì quả mồ hôi công sức của tác giả đã đổ sông đổ bể. Vậy thay vì tận hưởng cảm giác hài lòng trong tưởng tượng, ta hẳn nên thấy khó chịu nhức nhối trong tưởng tượng rồi thở phào vì mình hóa ra đã chữa được những cái cố tật đã làm mình ngứa mắt cứ được dễu đi dễu lại trong cuốn sách.
Cái sự “giác ngộ” gián tiếp này xem ra cũng ”chẳng liên quan” đến ý đồ của tác giả, vì cũng trong một câu chuyện lúc trà dư khác của nhóm B.R.O, anh Tuấn Trong Trắng đã nửa đùa nửa thật mà nói rằng vì người ta không cho anh sáng tác một câu chuyện “hoàn toàn không mang tính giáo dục”, mà anh đã phải nhào nặn nó thành “truyện tranh mang tính giáo dục (hơi) cao”. Trong cái rủi có cái xui, có lẽ nhờ vậy mà chúng ta mới có một “Học sinh chân kinh” ngày hôm nay.



Một trong những thành công của “Học sinh chân kinh”, chính là những chuyện nửa đùa nửa thật, nửa thực nửa hư của xứ Trái Đất được “tịnh tiến” tuốt qua xứ Trái Bưởi. Nào thì là chuyện thi nữ sinh, lộ hàng, báo mạng giật tít, chuyện nói xấu, ném đá giấu tay, xe máy bốc cháy, giá cả leo thang, bạo lực học đường, trẻ em bỏ nhà đi bụi, lối sống chuộng vật chất… Thế mới biết, dù là bên này hay bên kia dải ngân hà, dù là Trái Đất hay Trái Chuối, dù là Xứ Bưởi hay xứ dừa, thì cuộc sống vẫn là một chuỗi những biến số đảo điên muôn màu, đẹp đẽ trộn lẫn cùng xấu xí, sự nhân hậu đôi khi bị chôn sâu dưới ba tầng ích kỉ nhỏ nhen… Tất nhiên, “Học sinh chân kinh” có cách thể hiện vấn đề “nhạy cảm” ấy hết sức khéo léo, để bạn dù vui vẻ tận hưởng sự hư cấu và cường điệu, cũng hoàn toàn không thể tin rằng nó không có thật.
Bên cạnh những sự kiện được phản chiếu qua một tấm gương cười hài hước, “Học sinh chân kinh” còn sở hữu một đội ngũ nhân vật muôn hình muôn sắc, với đầy đủ những thói tật của đám học trò quỷ ma cũng phải vái hàng.
Đó là một “nhúm” những nhân vật mà ở lớp học nào cũng có, mà xa xôi cách trở hơn nữa, là ở cộng đồng nào cũng có: thằng Thường trong đầu chẳng có nợ gì nhưng lại đẹp trai, thằng Chí thì vẻ đẹp trai bị che lấp dưới mười tấn ghét nhưng trong đầu thì cái gì cũng có. Lại có một thằng Gia Phú Tiêu Sang không biết làm gì ngoài tiêu tiền trong khi cô bé lớp trưởng Hà Mã xấu đui lại phải ngày ngày kiếm tiền thay cha mẹ nuôi em, có một Như Ngang lùn xủn mưu mô suốt ngày chải chuốt trong khi có một Minh Tuệ vàng hoe ngây thơ vô số tội… Một dàn nhân vật ồn ào như vỡ chợ, vừa mưu mô vừa vụng về, vừa ra dáng người lớn lại vừa giống một đám mèo con chưa dứt sữa mẹ…

Mỗi đứa một sắc màu, một cá tính, một câu chuyện riêng. Lắm tài nhiều tật. Chúng có ước mơ, hoài bão, sẵn sàng bị tổn thương, bị bẽ mặt, nhưng nhất quyết không chịu lùi bước. Chúng hội tụ đủ thứ tật xấu trên đời, suốt ngày chí chóe với nhau, nhưng chúng vẫn biết sát cánh bên nhau khi khó khăn ập đến. Những đứa trẻ điên khùng  mà ta không thể yêu nhưng cũng chẳng thể ghét. Quãng đời trung học của bất kì ai, cũng sẽ trở nên vô cùng khó quên khi có những đứa bạn như chúng ở bên cạnh. Đó là điều khiến “Học sinh chân kinh” trở nên giàu cảm xúc. Nó nhắc nhở người ta luôn phải nhớ đến và trân trọng cái quãng thời gian Ăn chưa no, lo chưa tới lấp lánh đầy sắc màu ấy.
Dù ở bên này, hay bên kia dải ngân hà, thì cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Dù có bị chà đạp, dù có dở khóc dở cười, thì chỉ cần ngẩng cao đầu đứng lên sau mỗi lần vấp ngã, thì ta vẫn là người chiến thắng. Đó chính là cách mà “Học sinh chân kinh” đã diễn ra, cũng tình cờ là câu chuyện đời của chính những họa sĩ đã chắp bút vẽ nên câu chuyện đầy ắp tiếng cười và nước mắt (có thể hiểu là Cười chảy nước mắt) này. Một câu chuyện đáng ghét, nhưng không thể không yêu.

STRONG ICARUS

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Kindaichi Neo: Tương lai nào cho series live-action kinh điển?

 Nếu bạn hỏi tôi bộ live-action trinh thám yêu thích nhất của tôi là gì, tôi sẽ không ngại ngần mà trả lời luôn: Đó là Kindaichi Shounen no Jinkenbo


Bắt đầu lên sóng từ năm 1995, được chuyển thể từ bộ manga cùng tên của bộ đôi tác giả Kanari Yozaburo và Satou Fumiya, series live-action của Kindaichi Shounen no Jinkenbo đã bước sang năm thứ 19 với 4 mùa phim, 3 SP Drama và bốn chàng Kindaichi qua diễn xuất của bốn nam diễn viên khác nhau.

Để nói gì đó về series này, thì bản thân mình, dưới góc độ của một fan hâm mộ, vô cùng yêu thích hai mùa đầu với diễn xuất của Domoto Tsuyushi trong vai Kindaichi. Tuy được làm vào những năm giữa của thập niên 90, khi mà kĩ xảo điện ảnh còn dừng lại ở việc tạo khói, đánh sáng xanh đỏ nhưng có lẽ vì nó là phần đầu tiên, nên lúc nào cảm xúc của nó cũng là mạnh nhất. Hai mùa phim này có lẽ là các phần bám sát nguyên tác nhất (và cũng lập kỉ lục về số hung thủ chết ở cuối phim), và nhạc phim hay nhất. Phần nhạc phim của hai mùa này đã trở thành thương hiệu và sử dụng cho hầu hết các phần sau đó.

Sang mùa thứ ba của series, Domoto "bỏ cuộc chơi", dàn cast được thay đổi lại toàn bộ với vai chính thuộc về Matsumoto Jun của nhóm Arashi. Jun tiếp tục với Kindaichi thêm một mùa nữa, và đây cũng là mùa drama cuối cùng của Kindaichi trước khi nó được làm dưới dạng SP Drama và chỉ quay trở lại hình thức truyền hình dài tập vào năm 2014.

Sau Jun, vai Kindaichi được tiếp tục đảm nhận bởi Kamenashi Kazuya của nhóm KAT-TUN. Nam ca sĩ tham gia vào tập SP Drama sản xuất năm 2005. Kazuya đã đưa series Kindaichi lao xuống vực khi trong suốt 8 năm sau đó (2005-2013) không có thêm bất kì một phiên bản điện ảnh hay truyền hình nào của phim ra mắt khán giả.

Tới tháng một năm 2013, dự án Kindaichi được khởi động lại bằng một SP Drama với bối cảnh chính diễn ra tại Cửu Long, Trung Quốc. SP Drama này và SP Drama thứ hai ra mắt vào tháng một năm 2014 được tung ra như một quả bóng thăm dò: một mặt đánh giá sự quan tâm của lớp khán giả mới (theo tôi nghĩ 8 năm là khoảng thời gian vừa đủ để tạo ra một lớp khán giả truyền hình mới), mặt khác là sự dọn đường cho kế hoạch tiếp theo.

Hai tập phim đặc biệt này được đầu tư rất công phu về cả mặt nội dung và hình ảnh. Nội dung của phim tiếp tục được xây dựng dựa trên cốt truyện phần II của manga, vì thế có lẽ không cần bàn cãi nhiều về tính hấp dẫn của nó. Phần hình ảnh với những kĩ xảo được đầu tư kĩ càng hơn, mà một dàn diễn viên "ngàn sao" quy tụ tất cả những nghệ sĩ giải trí  đình đám nhất ba quốc gia Nhật - Hàn - Trung: Ngô Tôn, Từ Nhược Tuyên, Tăng Chí Vĩ, Seungri (SP 2013), Nickhun (SP 2014), Narimiya Hirouki... Đặc biệt vai diễn chàng thám tử Hajime Kindaichi được giao cho Yamamoto Rysuke - chàng ca sĩ 21 tuổi của nhóm nhạc Hey! Sey! JUMP (Ôi, giai Kim Ngưu :3) và vai cô bạn đồng hành Miyuki được giao cho ngôi sao nữ đang lên Kawaguchi Haruna. Xét trên một góc độ nào đó, hai SP Drama này giống như một dạng phim quảng cáo trá hình: quảng cáo du lịch và thúc đẩy giao lưu văn hoá giữa ba quốc gia suốt ngày chí choé nhau trong khu vực Đông Á.

Sau sự dọn đường đình đám này, vào tháng bảy năm 2014, mùa phim truyền hình thứ tư của series này chính thức ra mắt. Mùa phim thứ tư này đánh dấu sự khác biệt của nó với những mùa phim trước bằng việc... thêm một chữ "N" vào sau tên phim: Kindaichi Shounen no Jikenbo N(neo) - Những vụ án mới của thám tử thiếu niên Kindaichi. Tất nhiên sự thay đổi về tên gọi này cũng dẫn đến những thay đổi về kết cấu và nội dung phim.

Tôi khá tự hào về việc mình là người theo dõi bộ live-action này qua từng mùa của nó (tất nhiên cho phép tôi loại trừ SP năm 2005 với diễn xuất của Kamenashi - diễn viên theo tôi không liên quan đến Kindaichi nhất từng tham gia bộ phim), phải nhận xét rằng, sau 9 tập phim, mùa phim này là mùa phim đáng thất vọng nhất.

Điểm bất thường đầu tiên ở series mới này, đó chính là độ dài - ngắn bất thường của các tập. Tập mở đầu dài 90 phút trong khi các tập còn lại chỉ có độ dài bằng một nửa. Ban đầu tôi đã nghĩ lí do chính của việc này là bởi tập đầu tiên bao giờ cũng dài. Nhưng sau khi xâu chuỗi các tập lại với nhau, thì có lẽ kế hoạch ban đầu của đội ngũ sản xuất là biến mùa phim này thành một mùa phim 4 tập với thời lượng 90 phút/tập (điều này có giống với series SHERLOCK của BBC không?) nhưng kế hoạch này đã đổ bể từ trong trứng nước. Điều này có thể nhận thấy rõ nhất ở tập 2, khi người xem nhanh chóng nhận ra tập phim này là một sự pha trộn sống sượng giữa motif thường thấy của Kindaichi với series phim Halloween kinh điển SAW. Và nội dung phim ư? Như thể nó đã bị cắt mất 60 phút ở giữa. Tình tiết phim thiếu thuyết phục, còn nhiều nút thắt chưa được mở, và động cơ gây án chẳng có một tẹo liên quan nào đến nội dung phim.

Cũng từ điểm bất thường đầu tiên bên trên, xin dẫn tới điều thứ hai, đó là mùa phim này cũng đánh dấu sự xuất hiện của tập phim dở nhất lịch sử 19 năm của series.

Một điều đáng buồn nữa trong cả mùa phim 2014, là sự không đều tay giữa các tập. Dẫu cho sự điều chỉnh thời lượng phim đã được cân bằng lại khi phim bước sang tập thứ tư, nhưng có một điều rất dễ dàng nhận ra là chất lượng "trồi sụt" giữa các tập phim. Một số tập được làm rất tốt, gần như bắt kịp được với không khí ba mùa phim trước trong khi một số tập khác lại hời hợt và ít thuyết phục dưới mức mong đợi. Tập phim đôi kết thúc mùa phim này cũng chưa ở vào cái cao trào đáng lí ra nó nên có.

Điểm cộng duy nhất nên dành cho mùa phim này có lẽ nên dành cho Yamaoto Ryusuke và Narimiya Hiroki. Yamamoto dường như là người có ngoại hình tương đồng nhất với nguyên mẫu Kindaichi trong số các diễn viên từng đảm nhận vai diễn này. Một điểm thuyết phục khác, là cậu đã thể hiện được cái gọi là "góc tối" trong con người Kindaichi - nơi luôn bị giằng xé giữa đúng và sai, thiện và ác, cái nên làm và cái phải làm, thêm cả một chút của sự cay đắng xót xa. Tất nhiên trong các phiên bản trước, mỗi chàng Kindaichi cũng đều có những góc tối, nhưng ở Ryusuke, nó đã được đẩy lên đỉnh điểm.

Narimiya Hiroki trong phim này vào vai Takato - kẻ điều khiển rối và cũng là đối thủ lớn nhất của Kindaichi. Narimiya đã qua cái thời kì lấy thiện cảm của khán giả bằng nụ cười mèo dễ thương của mình. Anh vào vai một kẻ sát nhân máu lạnh, và anh đã thể hiện nó với tất cả những gì tốt nhất. Anh vẫn cười, nhưng là điệu cười thách thức đầy kiêu ngạo. Ngắm chàng Narimiya nổi loạn của Gokusen, rồi anh Takumi thẹn thùng của Ima, ai ni yukimasu, anh bác sĩ Hanamichi với bao toan tính của Juui Dolittle... giờ là Takato của Kindaichi, mới thấy Narimiya đã trưởng thành như thế nào.

Tất nhiên vì thế nên lúc xem phim cũng khá mệt.

Mùa phim thứ tư của Kindaichi Shounen no Jinkenbo đã khép lại sau 9 tập với rất nhiều những ê chề và một số điểm sáng bất ngờ (như mối quan hệ giữa Kindaichi và Miyuki đã có bước tiến mới sau mấy chục năm học cùng phổ thông =))). Rating của bộ phim cũng không thể nói là cao (theo trang Dramawiki, rating 4 tập đầu của mùa phim này dừng lại ở con số trung bình là 10%, với tập cao nhất cũng là tập đầu tiên - 12%) trong khi điểm chấm trên IMDb của phim là 7.7/10.

Có rất nhiều ý kiến trên các diễn đàn điện ảnh về bộ phim này. Điều đáng nói là, những ý kiến ủng hộ bộ phim dường như đến từ hai nhóm khán giả chính: hoặc những người yêu thích bộ truyện và hành trình 19 năm của bộ phim, hoặc fan hâm mộ các diễn viên tham gia, hoặc yêu thích cả hai. Nhưng rõ ràng bộ phim bản thân nó không thể sống được nếu chỉ dựa vào hai nhóm khán giả này. Liệu đây có phải là kết thúc tất yếu của một series phim "kéo dài qua hai thế kỉ"? Có phải nó đã quá cũ kĩ trong một thời đại mà tất cả chứng cứ đều được gửi đến phòng giám định pháp y và khán giả đã chán ngán câu "hung thủ là một trong số chúng ta"? Có lẽ còn quá sớm để trả lời câu hỏi này, cũng như đưa ra một dự đoán chắc chắn cho tương lai của cả series phim. Nhưng những gì chúng ta đang thấy là vô vàn, vô vàn những khó khăn cần phải vượt qua.

Năm 2015, series Kindaichi Shounen no Jinkenbo sẽ tròn 20 tuổi. Những điều bất ngờ hãy còn ở phía trước, cũng như những bí ẩn mà Kindaichi cần phải giải quyết "Nhân danh ông nội" mình. Và chẳng mất gì khi chúng ta tiếp tục đặt hi vọng vào một series mà mình yêu thích.


STRONG ICARUS