Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ...



Mình vẫn nghĩ điều bi kịch nhất mà mình từng trải qua, thậm chí lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác, đấy là biết đến cái chết của một người trước khi biết về cuộc đời họ.

Cũng không sai khi nói Trịnh Công Sơn là người có những ảnh hưởng bền bỉ và dai dẳng nhất trong suốt cuộc đời mình. Tất nhiên việc ghi nhớ thời khắc bắt đầu của sự ảnh hưởng ấy là điều bất khả.


Mình không nhớ rõ mình biết đến Trịnh Công Sơn nào trước - một Trịnh Công Sơn với Tuổi đời mênh mông in trong sách hát nhạc, hay một Trịnh Công Sơn ôm đàn ghi ta hát những ca khúc Da Vàng. Đọng lại trong ký ức của mình là những trưa mùa hè, mình đi học về, và nghe nhạc Trịnh Công Sơn từ các đĩa nhạc của bố.

Trong số những bài hát mình đã nghe ngày ấy,dường như đã trở thành một nỗi ám ảnh với mình tới ngày hôm nay là Người con gái Việt Nam da vàng. Lần đầu tiên mình sợ một cái gì đấy, nỗi sợ hãi vô hình, nỗi sợ cái chết. Lần đầu tiên mình biết những câu từ trong một bài hát có thể tạo ra sức mạnh lớn lao đến như nào. Nó khác cái cảm giác khi mình gào lên những câu hát chất đầy máu xương của bài Quốc ca - đúng ra là đại đa số thời gian mình hầu như chẳng có cảm giác gì nhiều lắm với Quốc ca, cho tới lần nghe lại nó trong Giai điệu tự hào - nhưng tóm lại vẫn không phải cái cảm giác khi mình nghe nhạc Trịnh Công Sơn.


"Người con gái một hôm qua làng đi trong đêm, đêm vang ầm tiếng súng 
Người gái chợt ôm tim mình trên da thơm, vết máu loang dần 
Người con gái Việt Nam da vàng mang giấc mơ quê hương lìa kiếp sống Người con gái Việt Nam da vàng yêu quê hương nay đã không còn Ôi cái chết đau thương vô tình 
Ôi đất nước u mê ngàn năm 
Em đã đến quê hương một mình Riêng tôi vẫn âu lo đi tìm"

Đấy là một cái cảm giác u huyền ma mị, vừa quỷ vừa thần, vừa đáng sợ, lại vừa quyến rũ vô cùng. 

Sau Người con gái Việt Nam da vàng là Huế - Sài Gòn - Hà Nội, rồi cuối cùng mới đến Hạ Trắng, chính xác là album Hạ Trắng của Khánh Ly. Sau này thì có Đoá hoa vô thường...

Cho đến một ngày, đúng hơn là một tối nọ, khi mình nghe một cái album của Khánh Ly, chính xác là phần phỏng vấn Khánh Ly của một hãng đĩa hải ngoại. Mình nhớ lúc đó mình nghe bài Hát trên những xác người.


"Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người
Tôi đã thấy tôi đã thấyBên khu vườn một người mẹ ôm xác đứa con
Mẹ vỗ tay reo mừng xác con
Mẹ vỗ tay hoan hô hoà bình..."

Lúc đấy, nói thế nào nhỉ, mình đã sợ kinh khủng. Nỗi sợ đến từ hai phía: nỗi sợ hãi cái chết và ma quỷ, sợ hãi cái không khí trong bài hát và nỗi sợ hãi còn lại dành cho những gì mình chưa bao giờ nhìn thấy trong sách giáo khoa.

Chiến tranh trong sách lịch sử hình như không nói đến những điều như thế. Chiến tranh trong sách giáo khoa là cuộc chiến của những người bị hại đứng lên giành lấy công lý cho mình. Lúc nào cũng thế. Chiến tranh trong sách giáo khoa là một sự mặc định theo kiểu tất cả mọi người đều "giác ngộ", đều chết vì một lý tưởng... Chẳng có số nào trong những cái-chết-trong-sách-giáo-khoa ấy dành cho những-người-bình-thường cả, những người chết mà vẫn không hề biết tại sao mình chết, không kịp nhận ra mình đã chết hoặc giả có thì mình cũng không đủ tinh tế để nhận ra.

Cũng nên kể lại cả việc hồi đấy mình mới được dạy cho hai từ "phản động". Thế nên hồi đấy mình đã nghĩ Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, và tất cả những gì thuộc về "miền Nam trước năm 1975" đều là "phản động". Như mình đã kể trong một status cũ cũ hồi trước, kết quả của sự "khám phá" này là suốt nhiều năm sau đấy bố mẹ mình chỉ dám để Trọng Tấn hát "Bạn ơi hãy đến quê hương chúng tôi..." khi có mặt mình trong nhà.

Đấy là chuyện hồi mình học lớp 8.

Quãng thời gian niên thiếu của mình sau sự kiện "động trời" năm ấy đôi lúc cũng xuất hiện Trịnh Công Sơn, nhưng chỉ dừng lại ở những sáng tác "được phổ biến" của ông như Gọi tên bốn mùa, Đoá hoa vô thường, Ở trọ trần gian... Những bài hát của ông tạo ra cho mình một không gian sáng tạo vô cùng rộng lớn, là nguồn cảm hứng, thậm chí cả người lắng nghe và chia sẻ với mình. 

...

Mình chỉ thực sự tiếp cận với Trịnh Công Sơn với tất cả những gì "Trịnh Công Sơn" nhất vào những năm cuối thời "học đại" kia.

Khi người ta đã đủ lớn, hoặc nghĩ bản thân đủ lớn, bị phản bội niềm tin hoặc chối bỏ niềm tin, thì người ta bắt đầu nghi ngờ mọi thứ. Quá trình ấy diễn ra với mình vào khoảng giữa năm nhất và năm hai - gây ra bởi bạn bè, bởi những thứ mình đọc trên internet, và cả các thầy cô trực tiếp giảng dạy các môn học đại cương của mình. 

Hồi đó mình được xem "Đất khổ" - tên tiếng Anh là Vietnam: Land of Sorrow làm vào những năm 70 về trước. 

Mình đã nghĩ nếu muốn làm phim để ca ngợi hoà bình, thì chẳng có gì tốt hơn những bộ phim về người chết - đúng hơn là những người vô tội đã bị giết hại như thế nào. Những bộ phim ca ngợi một cách phô trương tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường này kia chỉ làm mình thêm ghét những người đã làm ra nó, và những cái to to hơn chứa chấp những con người ấy mà thôi.

Quay lại Đất khổ. Một phần không nhỏ nội dung bộ phim này giống như làm về tiểu sử của Trịnh Công Sơn, anh vào vai chính mình trong bộ phim ấy. Anh không bước vào cuộc chiến, không đứng giữa hai làn đạn. Anh hoà vào dòng người chạy nạn nháo nhác trên các con đường, trong những khu nhà thờ chật ních người tị nạn... Chẳng có cái gì là người dân nô nức đứng lên giành chính quyền, chẳng có cái gì là "trùng trùng quân đi như sóng". Chỉ có những gương mặt thất thần, những cái xác nằm lại bên đường, chỉ có những đứa trẻ lạc bố lạc mẹ, có người mẹ ôm cái xác đứa con đã chết của mình mà ru hời...

Đó là những thứ mà những cuốn sách lịch sử không dạy chúng ta. Chúng ta không được dạy cách sợ hãi chiến tranh. 

Đấy cũng là lúc mình quay lại với những khúc ca Da Vàng của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly. Gần đây, khi được đọc cuốn "Trịnh Công Sơn và cây đàn lyre của hoàng tử bé" của Hoàng Phủ Ngọc Tường, mình mới có được cái nhìn phần nào toàn vẹn hơn về cuộc đời Trịnh Công Sơn, về những thăng trầm biến cố nào đã tạo nên một "Bóng Núi" vĩ đại nhường ấy.

Và như mình đã bắt đầu bài viết này, mình lại lâm vào cái bi kịch biết đến cái chết của một người trước khi biết về cuộc đời họ.

Lại một ngày 1/4 nữa. Đã từ rất lâu rồi 1/4 với mình là một ngày buồn. Không chỉ vì mình quá bất lực trong việc nhận ra những điều dối trá lọc lừa mà những người đối diện cố đưa mình vào, mà bởi 1/4 là ngày mà một huyền thoại trong lòng mình nằm xuống. Mình nhớ báo đài hồi đó đã nói chẳng ai tin Trịnh Công Sơn đã qua đời trong cái ngày 1/4/2001 ấy.

Mình thì nghĩ bất kể 1/4 hay 2/4 hay bất kì một ngày nào khác, chẳng ai muốn chấp nhận một sự thực như thế. Ấy vậy mà đã 14 năm qua đi.

"Em ra đi nơi này vẫn thế
Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ..."

Cuộc đời này, sau ngày ông ra đi, vẫn cứ buồn như thế, nhưng người ta hình như đã chán những chiếc lá xanh mất rồi.


1/4/2015
STRONG.

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

THỜI NIÊN THIẾU CỦA SHERLOCK HOLMES: Lạc mất và tìm lại

Nền văn hóa đại chúng Anh ghi nhận Ngài Athur Conan Doyle như một trong những biểu tượng văn học bên cạnh những cái tên như William Shakespear, Oscar Wilder, J.J Tolkien hay   George Orwell… Cùng với đó, nhân vật chàng thám tử tài danh Sherlock Holmes của ngài Doyle, cũng như chàng Bilbo Baggin trong tiểu thuyết của Tolkien hay Doctor Who đã trở thành những nhân vật tiêu biểu được cả thế giới biết đến và say mê trong hàng chục năm qua.


Độc giả lâu nay vẫn biết đến thám tử Sherlock Holmes là một người đàn ông trưởng thành miệng ngậm tẩu, sát cánh bên người bạn đồng hành trung thành Watson (hoặc gần đây, trong một số phiên bản truyền hình vỡi nỗ lực làm mới lại biểu tượng này, là một “thám tử cố vấn” Sherlock với miếng dán nicotine trong phim truyền hình Anh, hay một Homles phiên bản Mỹ với cô bạn đồng hành Joan Watson xinh đẹp) chiến đấu vì công lý. Anh là một người đàn ông khiến chúng ta đôi khi phải đặt câu hỏi: “Quá khứ nào đã tôi rèn nên Sherlock Holmes?”
Quãng đời niên thiếu giống như những mảnh ghép bị Holmes gỡ bỏ một cách cố tình khỏi bức tranh cuộc đời mình. Anh làm chúng biến mất, nhưng không có nghĩa chúng chưa từng tồn tại. Nhà văn người Canada Shane Peacock bằng nỗ lực tuyệt diệu và phi thường của mình, dường như đã tìm được một phương pháp để  phục dựng lại những mảnh ghép ấy trong series truyện trinh thám “Thời niên thiếu của Sherlock Holmes”.
Bên cạnh việc kể lại câu chuyện về quãng đời thơ ấu của Holmes, trong bộ sách này, Shane Peacock đã đồng thời phục dựng lại cả Luân Đôn thế kỉ 19, với tất cả những gì chân thực nhất của một đô thành mang hơi thở của thời đại Victoria. Thành phố với chằng chịt những con đường và hẻm ngách đầy rẫy những kẻ bất lương, những khu nhà ổ chuột điêu tàn tồn tại hiên ngang bên cạnh những khu nhà của giới quý tộc sống đời xa hoa nhưng đầy rẫy bí ẩn, dòng sông Thames với dòng chảy uốn lượn cuốn theo nó là số phận của bao con người… Rải rác trong cuốn sách là những tên phố mặt người đã quá thân quen, được in tạc vào lịch sử sâu đậm tới nỗi nếu giả họ chưa hề tồn tại, thì nhân loại hẳn sẽ chẳng thế nào đi đến được ngày hôm nay: Karl Max và Enghel, phó thủ tướng Benjamin Disraeli, “linh hồn của Anh Quốc” – ngài Charles Dickens... Cậu bé Holmes lướt ngang qua Max và Enghel trong một cuộc bạo động của dân nghèo, diện kiến Disraeli trên cây cầu bắc ngang sống Thames một đêm nồng nực, và cùng người dược sĩ già chia sẻ với nhau những chương truyện Dickens chắp bút… Giữa đô thị cổ kính ấy, giữa những đường phố và con người, cậu bé Sherlock dường như không còn sống trong thế giới hư cấu thuần văn học, mà đã đặt được đôi chân mình vào lịch sử nhân loại. Cậu khiến người ta tin rằng cậu tồn tại, cậu có thật, và người ta sẽ tìm thấy cậu, đâu đó, trong những bức ảnh hay tranh vẽ quang cảnh Luân Đôn thời bấy giờ.
Sherlock không phải nhân vật duy nhất trong câu chuyện của ngài Doyle có một quá khứ được kể lại. Câu chuyện ấy bao hàm cả  Giáo Chủ, tên cầm đầu băng nhóm tội phạm nhí với tham vọng làm lũng loạn cả Luân Đôn, cô tiểu thư Irene Doyle phá cách, chàng thanh tra Lestrade mẫn cán… Và cả cái lướt qua tình cờ, với người mà ta hi vọng sau này chính là bác sĩ Watson. Peacock có câu trả lời hợp lý cho tất cả. Cô bé Irene Doyle lột xác thành “The Women” Irene Adler làm Homles chao đảo, sự đối đầu giữa Sherlock với thằng nhóc thủ lĩnh băng cướp nhí trở thành sự đối đầu giữa hai bộ óc thiên tài bậc nhất… Từng bước một, họ biến đổi, và trở thành những nhân vật mà chúng ta đều đã biết mặt quen tên.
Hệ thống nhân vật trong “Thời niên thiếu của Sherlock Holmes” đa phần là ẩn số được tung ra theo kiểu “Ai sẽ là ai?”. Tuy nhiên, nhân vật Sigerson Trismegistus Bell (hay còn được biết đến như một ông dược sĩ già điên khùng với cái lưng hình dấu hỏi, một nhà giả kim, một nhà hóa học, tổ sư của môn võ Bellitsu, ông già đội mũ fez…) là một biến số ngẫu nhiên đầy lý thú. Ông Bell với cửa hàng thuốc trên phố Đan Mạch dường như là một thứ “phiên bản giới hạn” dành riêng cho series thời thơ ấu này, giúp bộ sách tự phân biệt nó với công trình của ngài Doyle, cho dù theo đánh giá cá nhân người viết, Shane Peacock đã bắt nhịp được với nguyên tác một cách hoàn hảo.
Ông dược sĩ Bell quan trọng với Sherlock của Peacock như thể bác sĩ Watson quan trọng với Holmes của ngài Doyle. Họ đều là những người làm nhiệm vụ chữa lành các vết thương – không chỉ là thể xác, mà còn là tâm hồn đầy giông bão của Holmes. Watson là bằng hữu, là tri kỉ, một người thư kí để ghi chép, một người xuất hiện để kể lại những chiến công lẫy lừng của Holmes khi anh đã trưởng thành; còn ông già Bell là mái nhà, là người cha, người thầy, một “sư phụ” thay bậc thân mẫu của Sherlock yêu thương cậu (tất nhiên theo cái cách lạ lùng của riêng ông), dạy dỗ, trang bị cho cậu tất cả những gì cậu cần để trở thành một “chàng trai vàng”, một báu vật của công lý. Những tháng ngày mà họ đã chia sẻ với nhau dưới mái nhà trên phố Đan Mạch, mối quan hệ kì lạ ở ngã ba giữa tình cha con, tình thầy trò và cả tình bằng hữu, niềm vui và hạnh phúc mà cậu bé Sherlock đã tìm lại được khi ở bên ông… người ta sẽ nhớ về nó, như nhớ về tình huynh đệ giữa bác sĩ Watson và Sherlock Holmes.
Con người ta ai cũng phải lớn lên. Và cậu bé Sherlock mười ba tuổi cũng đến ngày phải trưởng thành. Có khác chăng bởi con đường Sherlock lựa chọn là độc đạo, nên quá trình trưởng thành ấy thật nhiều đớn đau và mất mát. Vụ án đầu tiên cậu điều tra đã đẩy mẹ cậu vào chỗ chết. Sherlock hiểu rằng trên ngả đường công lý, những người thương yêu cậu đều gặp nguy hiểm – điều này  trở thành nỗi ám ảnh, ép buộc cậu triệt tiêu cảm xúc, sống bằng những suy luận khoa học chính xác. Sherlock nhận ra công lý mà cậu kiếm tìm không phải sự trả thù cho người mẹ quá cố hay tìm kiếm tiếng tăm lẫy lừng. Nếu hành động vì những mục đích ấy, thì cậu mãi mãi sẽ không thể thành con người mà cậu khao khát.
Bước chuyển mình cuối cùng để trưởng thành của cậu bé Sherlock để trở thành thám tử Sherlock Holmes là gì? Là mùa xuân u ám khi những người cậu yêu thương nối tiếp nhau ra đi? Là khi cậu quyết định cắt đứt mọi liên hệ với những người cậu yêu quý? Hay chiếc đồng hồ sự sống đang đếm ngược về 0 của ông Bell? Hay cuộc đối đầu sinh tử với đối thủ số một? Hay… Mỗi người, thậm chí chính Holmes cũng sẽ có những lựa chọn cho riêng mình. Nhưng đứng ở quan điểm chủ quan của người viết, có lẽ đó là khoảnh khắc trên cầu tàu, ông Bell vạch mặt hung thủ thực sự đã giết Grimsby, và dạy cho Sherlock bài học sau cùng.
“Hãy tôn trọng chính bản thân mình và tôn trọng những người khác. Hãy luôn làm việc đúng đắn, bất chấp tất cả, dù đối thủ của con là ai, dù hắn tàn ác tới đâu. Và hãy mưu mẹo, chàng hiệp sĩ trẻ của ta, hãy dùng những cách thức không chính quy, thậm chí, nói thế nào nhỉ, những chiêu thức hơi hiểm một chút, và hãy luôn chiến thắng! Con hãy tỏa sáng. Con phải chiến thắng! Nhưng đừng bao giờ làm những trò ma mãnh mà chúng làm.” – Sigerson Bell (Trưởng thành. Thời niên thiếu của Sherlock Holmes)
Chàng trai trẻ đã hứa. Anh bắt đầu một cuộc hành trình mới, với những di sản mà ông Bell để lại, quyết tâm xóa đi quá khứ của mình, như loại bỏ điểm yếu cuối cùng mà bọn tội phạm có thể sử dụng để chống lại anh. Anh đã sẵn sàng. Anh đã trưởng thành.
Trong suốt sáu tập sách của mình, Shane Peacock đã duy trì  một lối hành văn gợi cảm, đầy tinh tế pha chút hài hước “kiểu Anh”. Cốt truyện với những tình tiết vô cùng thông minh, ly kì và gay cấn, những cú ngoặt bất ngờ đánh lạc hướng bạn đọc khiến “Thời niên thiếu của  Sherlock Holmes” trở thành một phần mở đầu tuy muộn màng nhưng bắt nhịp mượt mà với phần truyện tưởng diễn ra sau nhưng đã xuất hiện trước nó vài thế kỉ. Bộ sách xuất hiện như một mảnh ghép còn thiếu của lịch sử, một phần tưởng chừng như đã vĩnh viễn biến mất, nay bất ngờ được tìm lại vẹn nguyên.

STRONG ICARUS

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (2)

KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN

Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus



Nhấn vào đây để đọc từ chương 1 đến chương 3

4

Ban đầu, cảnh sát đến thăm gia đình mỗi ngày, ảnh của Laurie được đăng ở trang nhất mọi tớ báo ở New Jersey và New York. Ở nhà, với hai hàng nước mắt, Sarah nhìn thấy bố mẹ mình trên chương trình “Chào buổi sáng”, cầu xin những kẻ bắt cóc mang trả Laurie về cho họ.
Hàng tá người gọi điện tới và nói rằng họ đã nhìn thấy Laurie, nhưng không có một mang mối nào hữu ích. Cảnh sát đã hi vọng rằng đây là một vụ bắt cóc đòi tiền chuộc, nhưng không có một yêu cầu nào được đưa ra.
Mùa hè tới. Sarah chứng kiến khuôn mặt mẹ mình trở nên tiều tụy và hốc hác, cùng với đó là hình ảnh cha cô liên tục phải lục tìm lọ thuốc nitro-glycerin trong túi áo. Mỗi buổi sáng, họ đi đến buổi lễ lúc 7 giờ và cầu nguyện để Laurie được đưa trả về nhà. Mỗi đêm, Sarah thường tỉnh giấc để nghe thấy tiếng mẹ cô bé thổn thức, và tiếng cha cô an ủi vợ khi bản thân ông cũng đã kiệt sức. “Laurie được sinh ra đã là cả một phép màu. Hãy tin vào một phép màu khác sẽ mang con bé quay trở lại,” cô bé nghe tiếng bố nói.
Năm học mới lại bắt đầu. Sarah luôn là một học sinh xuất sắc. Cô mải mê với những cuốn sách, nhận ra rằng chỉ bằng việc học, cô mới có thể trốn thoát khỏi nỗi phiền muộn của bản thân. Bẩm sinh đã sở hữu vóc dáng của một vận động viên, cô bắt đầu học cách chơi golf và tennis. Sarah vẫn không nguôi nhớ mong người em gái, nỗi nhớ hiện hình trong những con đau tức. Cô tự hỏi liệu Chúa Trời có đang trừng phạt mình vì đã có lúc oán trách rằng tại sao mọi sự quan tâm đều được dành cho Laurie. Cô tự buộc tội mình vì ngày hôm đó đã đi dự sinh nhật và lờ đi việc Laurie không được phép ra ngoài một mình. Cô hứa rằng, nếu Chúa Trời mang Laurie trả lại cho họ, cô sẽ luôn luôn, luôn luôn chăm sóc cho em gái mình.

5
Mùa hè trôi qua. Gió bắt đầu lùa qua những khe nứt trên các bức tường. Laurie lúc nào cũng lạnh cóng. Một ngày kia, Opal trở về nhà với vài cái áo dài tay, quần bò yếm, và một cái áo khoác mùa đông. Chúng không đẹp như quần áo Laurie từng mặc. Khi trời ấm trở lại, chúng đưa cho Laurie những bộ quần áo khác, quần cộc, áo phông và dép sandal. Một mùa đông nữa lại trôi qua. Laurie ngắm nhìn những chiếc lá trên cái cây to trước nhà bung lộc, lớn lên, nhanh chóng phủ kín mọi cành nhánh.
Bic có một cái máy đánh chữ cũ đặt trong phòng ngủ. Cái máy tạo ra những tiếng lách cách rất to mà Laurie có thể nghe thấy khi đang lau bếp hay xem tivi. Tiếng lách cách đó là một âm thanh hạnh phúc. Nó cho Laurie biết tạm thời Bic không thèm bận tâm đến cô.
Một lúc lâu sau, Bic sẽ ra khỏi phòng ngủ, cầm theo một xấp giấy và bắt đầu đọc to chúng cho Laurie và Opal. Hắn luôn luôn gào tướng lên, cũng như luôn kết thúc bằng cùng một câu, “Hallelujah. Amen!”. Khi đã kết thúc bài đọc, Opal và Bic sẽ cùng nhau hát váng lên. Luyện tập, chúng gọi việc đó như vậy. Những bài ca về Chúa và con đường về nhà.
Nhà. Đó là từ mà giọng nói trong đầu con bé muốn Laurie không bao giờ nghĩ về nữa.
Laurie chưa bao giờ bắt gặp một ai khác. Chỉ có Bic và Opal. Và khi ra ngoài, chúng nhốt con bé dưới tầng hầm. Điều này xảy ra khá thường xuyên. Tầng hầm là một nơi vô cùng đáng sợ. Cửa sổ gần như được gắn trên trần nhà, và bị bít lại bằng những tấm ván. Một nơi đầy những cái bóng, đôi khi những cái bóng dường như còn di chuyển. Lần nào cũng vậy, Laurie cố gắng chìm vào giấc ngủ ngay trên cái đệm mà chúng bỏ lại trên sàn.
Bic và Opal gần như không bao giờ có bạn. Nếu như có ai đó đến chơi nhà, Laurie sẽ bị nhốt dưới tầng hầm, với cẳng chân bị xích vào ống nước. Như vậy con bé sẽ không thể trèo lên và đập cửa. “Và nếu mày dám mở mồm kêu cứu,” Bic đe dọa. “Thì mày sẽ gặp rắc rối lớn đấy, và dù gì đi nữa, chúng tao cũng chẳng thể nghe thấy tiếng mày.”
Sau mỗi lần đi ra ngoài, chúng thường mang tiền về. Đôi khi chẳng đáng là bao, đôi khi lại ra tấm ra món. Hầu hết là *quarters* và *dollar bills*.
Chúng để con bé đi ra sân sau cùng với chúng. Chúng chỉ cho con bé cách tưới rau trong vườn và nhặt trứng trong chuồng. Có một con gà con mới nở, chúng cho phép Laurie giữ nó làm vật nuôi. Laurie chơi đùa với con gà mỗi khi cô bé có cơ hội ra ngoài. Thỉnh thoảng, khi chúng nhốt con bé dưới tầng hầm và đi ra ngoài, chúng cho phép Laurie giữ con gà bên mình.
Cho tới một ngày tồi tệ nọ, khi Bic giết con gà.
Sáng sớm tinh mơ một ngày nọ, họ bắt đầu đóng gói đồ đạc – chỉ quần áo, tivi và cái máy đánh chữ của Bic. Bic và Opal vừa làm vừa hát rống lên, “Ha-lay-loo-ya.”
“Một trạm phát 15000 oát ở Ohio!” – Bic gào lên, “Bible Bell, chúng tao tới đây!”
Họ lái xe suốt hai tiếng đồng hồ. Rồi từ ghế sau, vật lộn giữa đám hành lí cũ kĩ, Laurie nghe thấy tiếng Opal nói, “Đến nhà hàng và đánh chén một bữa tối cho tử tế nào. Sẽ chẳng ai chú ý đến con bé đâu. Chúng có lí do gì để làm thế đâu?”
Bic nói, “Đúng đấy.” Sau đó hắn nhanh chóng nhìn Laurie, qua vai. “Opal sẽ gọi bánh mì kẹp và sữa cho mày. Đừng có dại mà bắt chuyện với bất kì ai, nghe chưa”
Ba người bước vào một chỗ với quầy bán hàng dài cùng rất nhiều bàn và ghế. Laurie đói tới độ con bé dường như nếm được cả vị của món thịt lợn hun khói mà người ta đang rán. Nhưng còn có cái gì đó rất khác. Con bé nhớ mang máng rằng nó đã từng ở một nơi như thế này, với những người khác. Một cơn nức nở không thể kiềm chế dâng lên trong cổ họng con bé. Bic đẩy nó từ đằng sau, hối thúc nó bám theo Opal, và con bé òa khóc. Con bé khóc to đến độ nó không thể thở được. Nó nhìn thấy cô gái ở quầy thu ngân đang nhìn mình chằm chằm. Bic tóm lấy con bé và đẩy nó về phía bãi để xe, Opal theo hắn sát gót.

Bic ném con bé vào ghế sau, rồi hắn và Opal vội vã lao lên ghế trước. Khi Opal đạp lên chân ga, Bic túm lấy con bé. Opal cố né tránh khi bàn tay lông lá vung qua lại ngang mặt ả. Nhưng Opal không hề cảm thấy đau đớn. Ả ta chỉ thấy thương hại cho đứa bé gái đang khóc ngằn ngặt phía sau xe.

(còn tiếp)

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Chuyện tào lao của vàng vàng 2: Bằng mặt nhưng chưa bằng lòng


Nối tiếp sự thành công của tập đầu tiên, tập thứ hai, và cũng là tập cuối của bộ sách “hót hòn họt” Chuyện tào lao của vàng vàng đã ra mắt độc giả vào cuối năm 2014, với nhiều mạnh – yếu so với người anh em bìa hồng của nó.

Điểm đầu tiên cần nhắc đến ở Vàng Vàng 2, đó là đội ngũ sản xuất đã cực kì đầu tư cho bộ sách về mặt hình ảnh cũng như tính trải nghiệm sản phẩm: bộ 6 bookmarks tặng kèm, phiên bản đặc biệt kèm lịch 2015,… tất cả, trừ sự thiếu hụt của phiên bản đặc biệt bìa cứng. Mình đã nghĩ, có lẽ cái combo hai cuốn kèm lịch được bán ra là để an ủi những đứa đã trót mua cái bản đặc biệt của tập 1 =)). Coi như dang dở cả một cái sự sưu tầm. Ngoài sự việc ấy, và một cái bìa sách in sai màu nhân vật chính tè le, thì mọi thứ về mặt vật chất của cuốn sách đều ổn – đây chính là cái “bằng mặt” mà mình đề cập đến trong tiêu đề bài viết.

Bookmark với lịch cứ gọi là tè le cả, mỗi tội mình quên xừ ý chụp hình quyển lịch


Còn sau đây là cái sự “không bằng lòng”.

Về nội dung, vì tiếp tục là Chuyện tào lao, nên truyện vẫn khai thác thế mạnh của nó là diễn giải các sự kiện chính trị giữa các quốc gia dưới cái nhìn trào phúng. Vẫn là các nhân vật đã quen mặt như Vàng Vàng, Gấu, Robot, Sâm, Sâm Nơ, Cam, Bướm… và những mâu thuẫn nhì nhằng có dấu hiệu kéo dài về… vô tận. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một điều rõ ràng là dường như tác giả đang gặp khó khăn trong việc đưa ra những liên tưởng phù hợp. Nếu như trong tập một của cuốn sách, người đọc dễ dàng nhận ra truyện đang đọc có liên hệ tới sự kiện gì, thì sang đến tập hai, dù có đọc chú thích ở dưới, cũng khá là khó để liên tưởng câu chuyện ấy đến sự kiện thực tế. Dường như người đọc thì muốn hiểu tường tận, còn tác giả thì “né né”. Vẫn biết cái lối “né né”, nói bóng nói gió vòng vo là cái đặc sắc của Vàng Vàng, nhưng hình như tập hai này, khán giả bị dẫn đi hơi xa.

Tuy nhiên, nếu chọn một góc nhìn khác, đó là bỏ phứt cái đám phụ đề chân trang, không quan tâm đến việc truyện đang “bóng gió” cái gì, thì đa số thời lượng của Chuyện tào lao của Vàng Vàng 2 lại là một cuốn nhật ký vừa vui vừa bựa của (như đã nói trong bài review trước) đời sống thường nhật trong một cái chung cư những năm 80. Hàng xóm thì nhây, chủ nhà thị bựa, xong đôi lúc lại có một hai chú “ngây thơ” đu dây từ đâu nhảy vào để bị đá văng ra ngoài.

Trong cuốn sách này, xen giữa những câu chuyện của tụi Vàng Vàng, vẫn có những câu chuyện đời thường với các nhân vật… bình thường khác như chuyện giá xăng, chuyện sống tự lập… Những mẩu chuyện này giống như dưa chua kẹp trong ổ bánh mỳ, đôi khi cắn trúng một miếng thấy vui miệng mà đỡ ngấy, giúp giãn mạch truyện, khiến độc giả không bị bội thực chuyện tụi chói lỏi kia. Nhưng giời hỡi, lần này dưa chua đã ngon hơn thịt mất tiêu rồi T”T.

Về tổng thể nói chung, thì trong tập hai này, các truyện đều có thời lượng dài hơn, phân khung đa dạng hơn, chính vì vậy có khả năng đi sâu vào một số vấn đề, tạo chiều sâu cho kịch bản. Về mặt hình ảnh, tác giả đã phân khung chi tiết và đa dạng hơn trong các trang truyện – khiến các mẩu truyện tiến gần hơn đến hình thức một manga/comic/truyện trang ngắn thay vì truyện tranh koma bốn khung như trước. Có thể thấy truyện xuất sắc nhất trong cả tập sách, trong cả hình thức thể hiện lẫn nội dung là “Nghịch dại”.



“Nghịch dại” vẫn nằm trong trường chủ đề trào phúng chính trị, với mâu thuẫn ba bên: Sâm – Gấu – phần còn lại của thế giới. Mẩu truyện này không chỉ gây ấn tượng bởi nó dài nhất, các nhân vật đều xuất hiện ở “version người thật” hay toàn bộ đều là tranh đen trắng, mà nó còn có một kịch bản tương đối dày dặn và phù hợp với thời lượng 9 trang cùng cách thể hiện rất đa dạng.

Trong mẩu truyện này, mỗi nhân vật đều được xây dựng một cách cụ thể - cả về ngoại hình, tính cách lẫn vấn đề gắn với họ: Sâm Nơ mì ăn liền, Robot tỉ mỉ trong cả những việc vô thưởng vô phạt nhất, Liberty lúc nào cũng to mồm, Gấu thích giả vờ giả vịt, và thằng Sâm “không biết đường nào mà lần”. Cái hay của tác giả trong câu chuyện này là đã tìm được một câu chuyện để ném tụi nhân vật điên khùng ấy vào đứng chung với nhau mà không đứa nào bị lép vế, thoải mái thể hiện tính cách của chúng nó với một cái plot twist “rùng rợn” =)) kiểu kẻ hai mặt cuối cùng cũng bị trừng trị (theo một cách cũng lố bịch không kém).



Bộ sách Chuyện tào lao của Vàng Vàng gồm hai tập (và tác giả không có ý định cho ra đời tập 3), là một trải nghiệm lạ lẫm với rất nhiều độc giả khi lần đầu tiên họ được thưởng thức hai trong một: truyện tranh và thứ hài giễu nhại chính trị. Và vì nó là thứ mới, vô tiền khoáng hậu (ít nhất là ở Việt Nam, thề luôn) nên dù vẫn còn những sự “trồi sụt” về phong độ, thì mình vẫn đề xuất nó làm bộ truyện mà bạn nên có trong bộ sưu tập của mình.


Strong Icarus.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

All around the town/Khắp nơi trong thị trấn - Mary Higgins Clark (1)


KHẮP NƠI TRONG THỊ TRẤN

Tác giả: Mary Higgins Clark
Người dịch: Strong Icarus





PHẦN MỘT

1
Tháng sáu năm 1974
Ridgewood, New Jersey
Mười phút trước khi biến cố xảy ra, cô bé Laurie Kenyon bốn tuổi vẫn đang ngồi bắt chéo chân dưới sàn phòng ngủ, mải mê sắp xếp lại nội thất trong căn nhà búp bê của mình. Chán nản với việc phải thui thủi chơi một mình, cô bé muốn đi tới bể bơi. Vọng lại từ phía phòng ăn, cô bé có thể nghe thấy giọng của mẹ và những người bạn phổ thông ở New York của bà. Họ đang ăn trưa và cười nói vui vẻ.
Mẹ đã dặn rằng, vì chị gái Sarah của cô bé vẫn đang ở bữa tiệc sinh nhật của một cô bé 12 tuổi khác, nên Beth – người vẫn thỉnh thoảng trông nom cô vào ban đêm, sẽ đến bơi cùng Laurie. Nhưng từ lúc đặt chân tới đây, Beth lập tức đã dính lấy chiếc điện thoại.
Laurie gạt những lọn tóc dài màu vàng óng, âm ấm trên khuôn mặt ra đằng sau. Cô bé đã lên gác được một lúc lâu và tự thay sang bộ đồ bơi màu hồng. Có lẽ cô cần đi gọi Beth một lần nữa…
Beth đang nằm ườn trên ghế dài, điện thoại kẹp giữa cổ và tai. Laurie lắc lắc cánh tay Beth. “Em chuẩn bị xong hết rồi.”
Beth có vẻ giận. “Một phút nữa thôi. Chị xong ngay đây cưng,” cô trả lời. “Chị đang có một việc cực kì quan trọng cần phải bàn.” Laurie nghe thấy tiếng Beth thở dài vào điện thoại. “Tớ cực ghét cái nghề trông trẻ.”
Laurie tiến về phía cửa sổ. Một cái xe hơi rất dài đang chầm chậm đi ngang qua trước nhà. Theo sau đó là một cái xe chất đầy hoa, và rất nhiều xe khác với đèn pha sáng choang. Cứ mỗi lần nhìn thấy đoàn xe như thế đi qua, Laurie luôn luôn nói rằng thiên đường đang đi đến, nhưng mẹ cô bá lại bảo không phải thế. Đó là một đoàn xe tang đang trên đường đi đến nghĩa trang. Ngay cả thế, đoàn xe vẫn khiến Laurie nghĩ tới thiên đường. Cô bé thích chạy xuống đường và vẫy tay với những người ngồi trên xe. Đôi khi họ cũng vẫy tay đáp lại cô bé.
Beth giữ nút nhận cuộc gọi. Laurie đang định hỏi hỏi liệu hai người có thể ra ngoài và xem đoàn xe đi qua hay không khi Beth lại nhấc điện thoại lên.
Beth là đồ xấu tính, Laurie tự nhủ. Cô bé nhón chân đi qua căn phòng lớn và lẻn vào trong phòng ăn. Mẹ và các bạn vẫn đang vui vẻ chuyện trò. Mẹ đang nói “Có thể tin được không chứ, bọn mình đã tốt nghiệp và rời Villa được 32 năm rồi!”
Người phụ nữ ngồi kế bên mẹ đáng, “Dào ôi, Marie, ít nhất thì cậu có thể nói dối mà. Cậu có một cô con gái bốn tuổi, còn tớ thì có nguyên một cô cháu ngoại bốn tuổi!”
“Chúng ta nhìn vẫn còn xuân chán,” ai đó nói, và mọi người lại bật cười.
Chẳng ai thèm nhìn đến Laurie. Họ cũng xấu tính chết đi được. Cái hộp nhạc xinh xắn mà mẹ mua cho Laurie nằm ở trên bàn. Laurie lấy cái hộp. Cửa ra vào chỉ còn cách cô bé vài bước chân. Cô bé mở cửa thật nhẹ nhàng, nhanh chóng băng qua chiếu nghỉ và chạy qua lối đi dẫn xuống đường lớn. Vẫn còn vài chiếc xe đi ngang qua ngôi nhà. Cô bé giơ tay vẫy.
Cô bé nhìn theo cho tới khi đoàn xe mất hút khỏi tầm mắt, khẽ thở dài, hi vọng rằng những người khách sẽ sớm ra về. Laurie vặn dây cót hộp nhạc và lắng tai nghe tiếng dương cầm cùng giọng hát vang lên. “Từ phía đông, rồi từ phía tây…”
“Này cô gái nhỏ.”
Laurie không hề nhận ra chiếc xe đang táp vào lề đường và dừng lại. Lái xe là một phụ nữ. Người đàn ông ngồi bên cạnh ra khỏi xe, nhấc bổng Laurie lên. Và trước khi cô bé kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Laurie đã bị kẹp chặt giữa hai người trên băng ghế trước. Cô bé bàng hoàng, tới độ không thốt được lên lời. Người đàn ông mỉm cười với cô, nhưng khó có thể nói đó là một nụ cười dễ chịu. Người phụ nữ có mái tóc ôm sát mặt, không tô son. Người đàn ông để râu, cánh tay phủ một lớp lông xoăn tít. Laurie bị ép chặt về phía người đàn ông, tới độ cô bé cảm nhận được từng sợi trong đám lông lá ấy.
Chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Laurie ôm chặt cái hộp nhạc. Bây giờ giọng hát đang ca lên: “Từ khắp nơi trong thị trấn… Những chàng trai và cô gái ở bên nhau…”
“Mình đi đâu đấy?” – Cô bé hỏi. Cô nhớ rằng mình không được phép ra ngoài đường một mình. Mẹ hẳn sẽ giận cô lắm. Cô bé thấy mắt mình ậng nước.
Người phụ nữ trông vô cùng giận dữ. Người đàn ông nói, “Khắp nơi, bé con, khắp nơi trong thị trấn.”


2

Sarah hối hả đi dọc con phố, cẩn thận giữ trên tay miếng bánh sinh nhật đặt trong đĩa giấy. Laurie thích những món phủ sô cô la, do đó Sarah cố gắng mang miếng bánh nguyên vẹn về cho em gái, như một món quà xin lỗi cho việc cô bé không thể cùng chơi với em khi mẹ có khách.
Đó là một cô bé 12 tuổi dong dỏng cao, đôi mắt to màu xám với mái tóc đỏ cà rốt thường rối xù lên khi bị ướt, làn da trắng sữa với những đốm tàn nhang nâu nhạt lấm tấm ngang qua mũi. Con bé nhìn khác hẳn người mẹ nhỏ nhắn với mái tóc vàng và đôi mắt xanh, cũng không giống người bố với mái tóc màu nâu tối đã ngả sang muối tiêu.
Sarah luôn lo lắng việc bố mẹ cô – John và Marie Kenyon quá già so với bố mẹ của những đứa trẻ khác. Cô luôn bị ám ảnh bởi việc họ có thể qua đời trước khi cô kịp trưởng thành. Người mẹ đã từng giải thích cho cô bé rằng: “Bố mẹ lấy nhau 15 năm và hầu như từ bỏ hi vọng có thể sinh được một đứa con. Nhưng vào năm mẹ 37 tuổi, mẹ biết con đang đến bên mẹ, giống như một món quà. Tám năm sau thì em con, Laurie ra đời. Ôi, Sarah ạ, đó là một phép màu!”
Vào năm Sarah học lớp hai, cô bé vẫn nhớ rằng mình đã hỏi Sister Catherine rằng giữa món quà và phép màu, cái nào tốt hơn.
“Phép màu là món quà tuyệt vời nhất mà con người có thể nhận được,” Sister Catherine trả lời. Buổi chiều hôm ấy, khi Sarah bất ngờ bật khóc trong lớp, cô đã nói dối rằng đó là vì cô bị đau bụng.
Thậm chí ngay cả khi biết rằng Laurie là đứa bé được yêu mến hơn, Sarah vẫn yêu quý bố mẹ mình vô điều kiện. Vào năm lên mười, cô bé đã lập một giao ước với Chúa Trời, rằng nếu Ngài không để bố hoặc mẹ cô chết trước khi cô trưởng thành, thì Sarah sẽ lau dọn nhà bếp mỗi đêm, giúp bố mẹ chăm sóc Laurie và không bao giờ nhai lợi của mình nữa. Sarah đã làm rất tốt phần việc của mình, vì thế nên Chúa Trời đã lắng nghe lời thỉnh cầu của cô bé.
Nụ cười vô thức nở trên môi cô bé. Sarah rẽ vào góc đường Sồi Song Sinh và nhìn trân trối. Hai chiếc xe cảnh sát đang đỗ ở lối vào nhà cô bé, đèn xe liên tục nhấp nháy. Rất nhiều hàng xóm đang tập trung ở bên ngoài, kể cả những người mới chuyển đến hai ngôi nhà phố dưới – những người mà gia đình cô bé vẫn chưa thực sự gặp mặt. Khuôn mặt mọi người ánh lên vẻ buồn rầu và sợ hãi, bàn tay họ vô thức ôm chặt hơn những đứa con của mình.
Sarah bắt đầu chạy. Có lẽ bố và mẹ cô đang ốm. Richie Johnson đang đứng bần thần trên bãi cỏ. Cậu ta là bạn cùng lớp với Sarah ở Mount Carmel. Sarah hỏi Richie tại sao mọi người lại đến đây.
Richie nhìn Sarah với ánh mắt ái ngại. Laurie đã mất tích, cậu bé nói. Bà lão Whelan đã nhìn thấy một gã đàn ông lạ bế Laurie lên xe, nhưng không hề nhận ra cô bé đã bị bắt cóc.

3
1974 – 1976
Bethlehem, Pennsylvania
Chúng không hề đưa con bé về nhà.
Chúng lái xe rất lâu và đưa con bé đến một căn nhà bẩn thỉu, nằm vạ vật đâu đó giữa cánh rừng. Chúng tát mỗi khi con bé bắt đầu khóc. Gã đàn ông vẫn túm lấy con bé và ôm lấy nó. Sau đó gã mang con bé lên tầng. Con bé cố gắng chống cự, nhưng gã đàn ông cười vào những nỗ lực ấy. Chúng gọi con bé là Lee, còn tên của chúng là Bic và Opal. Một lúc lâu thì con bé cũng tìm được cách thoát khỏi hai kẻ bắt cóc, ít nhất là trong tâm trí. Thi thoảng con bé thấy mình đang trôi lơ lửng trên trần nhà và theo dõi những gì xảy ra với cô bé có mái tóc dài vàng óng ở bên dưới. Những lúc khác, con bé dùng cô bé ấy như một trò cười. Thi thoảng, khi những kẻ kia để con bé ngủ một mình, con bé mơ về những người khác, về bố nó, mẹ nó và Sarah. Nhưng chỉ đến đó thì con bé lại bật khóc và bọn chúng lại đánh. Vì nỗi sợ hãi ấy, con bé buộc bản thân mình phải quên đi bố, mẹ và Sarah. Thế là tốt, giọng nói trong đầu con bé nói với nó. Quên hết họ đi.
(còn tiếp)