Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

[Trà sữa cho tâm hồn - Số 132] Ánh mặt trời sau vòm cây bạch quả




Hàng cây bạch quả trong thành phố
Hạnh là người đã phát hiện ra những cây bạch quả ấy, qua tấm kính xước mờ của chiếc xe bus cọc cạch đang chạy bù giờ cho kịp về bến. Những cái cây ở đó, được đỡ bằng hệ thống khung gỗ, trên đoạn vỉa hè vừa được lát lại. Khẳng khiu và non nớt, nhưng chúng là những cây bạch quả ôn đới giữa mùa Hè nhễ nhại của một thành phố nhiệt đới.
“Hạnh thích những cây bạch quả à?” – Tôi hỏi, mồ hôi nhễ nhại, cùng cậu đi bộ ngược con phố trong cái nắng hè gắt gỏng, hướng về phía những cây bạch quả vừa thoáng nhìn thấy trên xe.
“Cũng không hẳn.” – Cậu khẽ nói giữa những nhịp thở gấp. “Tớ nhớ cảm giác khi đứng dưới vòm lá những cái cây ấy. Nhẹ nhõm, và hạnh phúc. Ấy nhìn bầu trời xanh ngắt qua vòm lá bạch quả vàng rực, chạm tay vào những chiếc lá rơi mà như đang trôi giữa không trung. Và cả…” – Hạnh trầm ngâm, rồi vụng về đưa tay quệt ngang những hạt nước vừa kịp trào ra nơi khoé mắt. Cậu bạn của tôi đang khóc. Tôi lôi được chiếc khăn mùi xoa nhăn nhúm khỏi chiếc ba lô đeo ngược trước ngực. Hạnh nhận chiếc khăn, tránh không nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt hoe đỏ. Chúng tôi không nói với nhau thêm bất cứ điều gì cho tới khi đã ngồi yên vị trên chuyến xe bus tiếp theo.
Những ngày sau đó, Hạnh tuyệt nhiên không đề cập đến câu chuyện về những giọt nước mắt bên cây bạch quả. Còn tôi, sự thờ ơ cố hữu trước những bí mật của người khác khiến đứa con gái 15 tuổi nhanh chóng quên đi sự kiện bất thường ấy. Thế giới của chúng tôi vẫn là một khoảng giới hạn bắt đầu từ nhà, kết thúc ở trường học và ngược lại. Những cây bạch quả nằm trong vòng tròn an toàn ấy. Im lặng và chậm chạp, lớn lên.
…
“Hôm nay tụi mình được nghỉ! Cô giáo đưa mèo đi đẻ!” – Thằng bạn cùng lớp nhí nhố gần hư hét vào mặt tôi khi hai đứa suýt lao vào nhau ở đoạn ngoặt của cái cầu thang chật hẹp. Tôi vung tay toan đánh nó, nhưng thằng bạn đã né được, chạy sầm sập xuống cầu thang, cười nhăn nhở. Chỉ còn lại tôi chơ vơ, phân vân không biết mình nên quay về hay lên lớp ngồi chờ hai tiếng đồng hồ tới ca học tiếp theo. Rồi tôi nhận ra Hạnh đang đứng nhìn mình, từ bậc thang cao nhất.
Tôi ngước nhìn Hạnh. Cậu khẽ nghiêng người, giả bộ như đang quay vào lớp. Tôi hiểu ý nghĩa đằng sau cử chỉ ấy. Hạnh muốn tránh mặt tôi. Cậu ấy đã như vậy suốt nhiều ngày, bắt đầu từ buổi chiều bên cây bạch quả. Là cậu bạn đang sợ hãi tôi sẽ thương hại cậu, hay cậu vẫn chưa nghĩ ra xong xuôi lí do biện minh cho những hạt nước mắt? Nhưng tôi đâu có quan tâm đến những điều ấy. Tệ thật. Ngay cả tôi cũng không tìm được cách nói cho Hạnh hiểu những suy nghĩ ngổn ngang trong đầu mình.
“Đi xem phim không?” – Tôi hỏi, cảm thấy lời đề nghị của mình giống như lớp bọt và phòng trong chậu quần áo. Nhẹ tênh, vô nghĩa, chẳng mấy sẽ tan biến.
Nhưng Hạnh đã đáp lại tôi bằng tên một bộ phim vừa được công chiếu.
Chú bé đội mũ len đỏ
“Ô, cây bạch quả này!” – Tôi kéo tay Hạnh, trỏ vào tấm panel quảng cáo của một phòng triển lãm mới mở trên mặt tiền con phố lớn. Rạp chiếu phim ở ngay trước mặt, còn cách chúng tôi chỉ vài số nhà.
“Cậu muốn vào xem không?” – Tôi ướm hỏi. Hạnh ngần ngừ. Chỉ chờ có vậy, tôi kéo tuột Hạnh vào bên trong nhà triển lãm. Hai đứa đi qua một đoạn hành lang tối om, để rồi khoảnh khắc sau đó ngỡ ngàng tưởng như mình vừa bước qua cánh cửa thần kì để đến một chiều không gian khác.
Toàn bộ tường và sàn phòng triển lãm đã được sơn phủ một lớp màu da trời sáng. Giống như bầu trời một ngày mùa Thu hanh hao nắng. Màu vàng ấy khiến sắc vàng của những chiếc lá bạch quả lại càng bật lên rực rỡ. Không những say mê những chiếc lá bạch quả, vị chủ nhân buổi triển lãm này còn sở hữu những dây thần kinh thị giác thật đáng nể - tôi thầm nghĩ, mắt nheo lại vì chói gắt.
Phía bên kia căn phòng, Hạnh đang đứng nhìn chăm chú một bức tranh khổ lớn, choán hết nửa chiều rộng bức tường. Cậu bé con trong bức tranh đang ngước nhìn bằng đôi mắt to, hàng mi rậm và tròng mắt màu nâu sáng ánh hạnh phúc rực rỡ như mặt trời. Chú bé ấy đội một chiếc mũ len màu đỏ - kiểu mũ phi công với hai miếng đan che tai và những quả gù treo lủng lẳng, miệng cười toe toét. Đôi chiếc lá bạch quả còn mắc lại trên những nếp gấp của chiếc mũ, trên vai và rơi xung quanh chú như những vệt bokeh lấp lánh.
“Dễ thương cậu nhỉ?” – Tôi đến đứng bên cạnh cậu.
Hạnh giật mình quay sang nhìn tôi. Đôi mắt cậu đỏ hoe, ầng ậng nước. Cậu quay lưng vội vã bước về phía đoạn hành lang tối dẫn ra khỏi phòng triển lãm. Mất vài giây để tôi giật mình đuổi theo cậu. Trước khi bước qua tấm màn nhung màu đen, ánh mắt tôi dừng lại ở nhóm các bức tranh sơn dầu khổ 12x12 treo ngăn nắp thành bốn hàng và bốn cột trên bức tường phía đối diện. Tất cả đều hoạ lại chân dung một cậu bé, bị chia thành hai nửa theo đường chéo. Một nửa đen – trắng và nửa còn lại ngập trong sắc vàng. Cậu bé quay lưng về phía người xem ở bức tranh đầu tiên, và nhìn thẳng vào người xem ở bức cuối cùng. Không chỉ là chuyển động của cơ thể, 12 bức tranh còn ghi lại sự trưởng thành của cậu bé ấy. Khuôn mặt cậu bé ở bức tranh cuối cùng đang nhìn thẳng vào tôi, từa tựa cái nhìn của cậu bạn thân thiết.
…
Hạnh đã bỏ lại tôi ở đó và ra về trước. Chỉ kịp lấy cuốn catalogue triển lãm phát miễn phí trên bàn, hỏi người lễ tân cậu bạn đã đi theo hướng nào, tôi nhắm mắt đuổi theo Hạnh trên phố.
Tình bạn mới kịp hàn gắn giữa chúng tôi giống như một mối dây nối ẩu. Mới đấy còn khăng khít mà giờ lại trở nên lạnh nhạt. Cậu bạn tiếp tục chơi trò giữ khoảng cách khó chịu. Hạnh không tìm cách tránh mặt tôi như lúc trước, cậu vẫn chào hỏi, vẫn nói chuyện với tôi, vẫn đi với tôi… Nhưng sâu trong ánh mắt cậu, trong cách cậu lơ đãng đáp lại những câu hỏi của tôi, tôi cảm nhận rõ cậu đang cố giữ tôi tránh xa một điều gì đó. Đó là thế giới của riêng cậu, bí mật của riêng cậu. Tôi tôn trọng sự sở hữu riêng tư ấy. Nhưng tôi không thể buộc mình thờ ơ nhìn bí mật ấy làm Hạnh buồn khổ thêm được nữa.
Nói thì dễ, làm thì khó. Tôi nhanh chóng nhận ra mình không thể nào cứ đến trước mặt Hạnh, đập bàn và hỏi cậu đang găp phải chuyện gì. Trong cơn buồn khổ, tôi hoang mang tự hỏi, có phải tôi và cậu thực ra không thân thiết như tôi vẫn tưởng – ít nhất là về phía tôi, tôi không hề coi trọng cậu bạn lúc nào cũng điềm đạm ấy? Bởi nếu tôi trân trọng cậu, và cậu cảm nhận được từ tôi sự trân trọng ấy, thì Hạnh đâu phải giữ những bí mật của cậu cho riêng mình.
Cuộc gặp gỡ
Cuốn catalogue in trên giấy couche đã thành một ống giấy tròn xoe và âm ẩm mồ hôi trên tay tôi. Tim tôi đập dồn dập, dạ dày quặn thắt lại vì căng thẳng và lo lắng. Một năm trước thôi, lúc nhận kết quả thi tốt nghiệp cấp hai, tôi cũng chẳng hồi hộp đến mức này. Ở đầu bên kia của căn phòng, chỉ cách tôi vài bước chân, là Eun Haeng – tác giả của buổi triển lãm bạch quả hôm trước.
Người phụ nữ trạc ngoài ba mươi ấy bỗng khiến tôi sợ hãi. Tôi chỉ là một con nhóc vô danh, một chấm nhỏ xíu vô giá trị giữa khán phòng đầy chặt những nhà báo, nhiếp ảnh gia, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, sinh viên mĩ thuật… đến chúc mừng và đưa tin về buổi workshop của người nữ họa sĩ Hàn Quốc gốc Việt nổi tiếng. Vậy mà con nhóc ấy – cũng chính là tôi, trong vài phút tới, sẽ tiến đến, tự xưng là phóng viên, và hỏi người phụ nữ ấy về chú bé đội mũ len đỏ trong bức ảnh cô đã chụp. “Mình hết hi vọng đến mức này rồi sao?” – Không ngày nào tôi không tự cười vào mặt mình vì kế hoạch này. Câu hỏi vô vọng, cuộc gặp gỡ vô vọng, tất cả chỉ vì hi vọng thấu hiểu được nỗi buồn của Hạnh.
Hít một hơi dài, tôi luống cuống bước về phía người phụ nữ. Cô Eun Haeng chỉ còn cách tôi một cây cột. Tim tôi đập mạnh hơn nữa, như thể nó sắp bung ra khỏi lồng ngực. Khoảng cách giữa chúng tôi chỉ còn là vài bước chân ngắn ngủi. Tôi mở miệng, toan cất tiếng gọi. Trong khoảnh khắc ấy, đôi mắt tôi bắt được một hình ảnh quen thuộc. Kế hoạch thay đổi. Tôi vội vã quay lưng, vừa đi vừa chạy.
Phía ngoài cùng đầu bên kia hàng ghế khách mời, Hạnh và bố cậu vừa đứng dậy. Trên tay Hạnh là một bó hoa hồng màu tro tím. Từ vị trí ngồi ở nơi xa nhất trong khán phòng của mình, và tật xấu lúc nào cũng đến muộn, tôi đã không nhận ra sự hiện diện của Hạnh. Nấp sau cây cột lớn, tôi cố lấy lại nhịp thở. Mất một lúc, tôi mới thò đầu khỏi cây cột, vừa kịp nhìn thấy cảnh cô Eun Haeng đang ôm chầm lấy cậu bạn tôi. Mái tóc dài của cô phủ kín cơ thể cậu. Hai cánh tay Hạnh chới với giữa không trung, rồi sau cùng, nó cùng khum lại, ôm lấy cơ thể côn Eun Haeng. Rồi cả bố của Hạnh cũng ôm lấy người phụ nữ. Ba người họ siết chặt lấy nhau.
Có khi nào đó là câu trả lời cho nỗi buồn của Hạnh? Mười năm trước, cậu và bố chuyển đến ở cạnh nhà tôi, trong ngôi nhà cấp bốn nhỏ xinh có giàn hoa giấy đủ màu trước cửa. Hạnh không có mẹ. Dù đó là đề tài bàn tán của tụi trẻ con tò mò, là thứ khiến Hạnh trở nên dị biệt, nhưng với tôi, đấy cũng chỉ là một trong số vô vàn những điều khác, như cuộc sống vốn dĩ đôi lúc vẫn phải như vậy. Nghĩ lại thì, nếu không vì tôi luôn thờ ơ với những bất thường như thế, chắc hẳn một chàng trai nhạy cảm như Hạnh sẽ chẳng bao giờ kết thân với tôi.
Phủi bụi bám khỏi hai đầu gối, tôi loạng choạng đứng dậy, men theo những tấm quảng cáo cao quá đầu người xếp dọc hai bên lối đi, len lén ra bên ngoài.
Dưới vòm cây bạch quả
Tôi lững thững đi bộ dọc phố. Chiếc xe bus thứ tư lao vụt qua trước mắt tôi. Nếu bước lên chiếc xe đầu tiên, có lẽ giờ tôi đã về đến nhà, và bà ngoại thì bắt đầu ca thán về buổi sáng cuối tuần đã bị phung phí. Nhưng lúc này đây, đó là điều cuối cùng tôi mong muốn trong đời.
Những cây bạch quả vẫn đứng chờ tôi ở đoạn vỉa hè quen thuộc. Hai cẳng chân tôi mỏi rã rời. Tôi ghé người ngồi xuống bồn cây ốp đá, đoạn cởi phăng đôi giày đang đi, thở hắt ra khi những đầu ngón chân cuối cùng cũng được duỗi thẳng. Tôi đã nghĩ nếu mình ăn mặc sao cho thật đứng đắn – bao gồm cả việc xỏ chân vào đôi giày búp bê màu đen cứng ngắc chật chội, thì nhìn tôi sẽ có vẻ thuyết phục hơn với cô Eun Haeng. Cuối cùng thì đều công cốc cả.
Điện thoại của tôi kêu lên khe khẽ. Tin nhắn của Hạnh:
“Tớ đã nhìn thấy cậu lúc cuối buổi workshop hôm nay.”
Tôi nhắn lại: “Tớ lộ liễu thế cơ hả?”
Một khoảng nghỉ ngắn. Những ngón tay tôi lướt đi trên bàn phím điện thoại cứng ngắc. “Cô Eun Haeng là mẹ cậu đúng không?”
Phải mất một lúc lâu sau, Hạnh mới nhắn tin trả lời: “Cậu đang ở đâu? Đợi tớ chút.”
“Tớ ổn mà!” – Tôi soạn tin nhắn trả lời, cảm nhận rõ ràng bản thân mình từ đầu đến chân không có chỗ nào ổn cả. Lần này Hạnh gọi thẳng cho tôi. Khẽ hít một hơi lấy tinh thần, tôi bắt máy.
“Đúng. Cô Eun Haeng ấy là mẹ tớ. Xin lỗi cậu!” – Chàng trai của tôi bắt đầu câu chuyện. “Bố mẹ tớ cưới nhau và sinh ra tớ khi cả hai đang đi du học. Ngôi nhà bố mẹ ở hồi đó có một cây bạch quả trồng trước hiên, nên tớ được đặt tên là Ngân Hạnh. Cậu biết đấy, nếu đặt tên con là Bạch Quả thì có hơi buồn cười. Bố mẹ tớ chia tay nhau năm tớ lên năm tuổi. Tớ về nước với bố, còn mẹ ở lại, quyết tâm theo đuổi giấc mơ lớn của mình. Tớ đoán họ chia tay nhau cũng vì bất đồng quan điểm trong chuyện ấy… Người lớn ấy mà… Mẹ tớ bảo khi tớ nhớ mẹ hãy nghĩ về cây bạch quả trước sân nhà năm nào, và khi mẹ nhớ tớ, mẹ cũng sẽ nghĩ về cái cây ấy. Buồn cười đúng không? Thế nên khi nhìn thấy những thứ trong buổi triển lãm ấy, tớ đã, nói thế nào nhỉ, gần như chết đi được vì hạnh phúc…”
“Thế nên cậu đã ăn mảnh hạnh phúc ấy đúng không?” – Tôi đáp, cố lấy giọng đanh đá.
“Không. Không phải, chỉ là…” – Một giây ngập ngừng ở phía bên kia, “tớ không muốn làm cậu buồn.”
Cơ thể tôi bị hẫng. Tất cả những cảm xúc này, những bí bức và mệt mỏi và chán nản từ sau khi rời khỏi buổi workshop, phải chăng tất cả cũng chỉ vì “điều ấy”?
“Tớ biết cậu chọn chơi với tớ vì tớ giống cậu. Ấy thế nên việc phát hiện ra tớ và mẹ đang ở cùng một thành phố, cùng nghĩ về nhau, và chúng tớ có thể sẽ lại là một gia đình, nó khiến tớ cảm giác có lỗi cũng nhiều y chang niềm vui và hạnh phúc vậy.”
Nếu Hạnh đang ở cạnh tôi, chắc chắn tôi sẽ cho cậu vài đập. Nhưng lúc này đây, qua điện thoại, tôi chỉ có thể khóc nấc lên. Vì ghen tị, tất nhiên rồi. Nhưng còn cả vì hạnh phúc nữa. Tôi hạnh phúc vì được Hạnh quan tâm đến những xúc cảm của mình, tôi hạnh phúc vì cậu không muốn làm tôi bị tổn thương… Tôi hạnh phúc vì cậu.
“Tớ… tớ đang rất… vui.” – Tôi khó khăn bộc bạch những suy nghĩ đang nhảy múa trong đầu mình. “Tớ đang rất hạnh phúc vì cậu cảm thấy hạnh phúc.”
“Xin lỗi vì đã không nói với cậu ngay từ đầu nhé!”
“Vì nó là một bí mật tuyệt vời, nên cậu được xí xoá!” – Tôi đáp. Tôi mỉm cười khi nghe thấy tiếng Hạnh ở phía đầu dây bên kia đang nói gì đó như thể “Cậu ấy không giận con nữa rồi”, và giọng cô Eun Haeng đáp lời “Chúc mừng con”. Nước mắt tôi lại cứ thế trào ra không kiểm soát nổi. Giá như tôi cũng có cơ hội được trải qua những điều tương tự như thế, giá mà bố mẹ tôi không chia tay, không xây dựng gia đình mới của riêng mình, không ở cách xa nhau – và cách xa tôi đến như thế. Tôi muốn được như Hạnh, nhưng đồng thời cũng tự hiểu điều kì diệu như thế sẽ chẳng bao giờ xảy ra với mình. Buồn thật đấy, nhưng biết làm sao được…
Ngước mắt lên nhìn, tôi thấy một mảnh bầu trời màu xam xám lẫn giữa những cành lá bạch quả màu xanh thẫm. Giờ mới là mùa hè, và những cái cây sẽ tiếp tục lớn lên. Rồi sẽ đến một lúc nào đó, tôi cũng sẽ được đứng cùng Hạnh dưới vòm lá bạch quả mùa Thu vàng óng lên dưới ánh mặt trời của thành phố này.
Suy nghĩ tươi sáng ấy cuối cùng cũng khiến tôi mỉm cười.
Phan Hải Anh.

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

Valerian and the City of a Thousand Planets hay câu chuyện cua gái xuyên qua một ngàn hành tinh

Sau cú flop lật mặt mang tên Alien: Covenant hồi tháng Tư vừa rồi, thì mình thực sự không nghĩ là trong năm 2017 này sẽ có phim sci-fi nào đủ sức vực mình dậy khỏi vực sâu u ám mang tên "flop lật mặt" nữa. 

Nhưng đấy là câu chuyện xảy ra khi dư âm của LIFE vừa kịp tan hết và Valerian and the City of a Thousand Planets mới chỉ là một đoạn trailer ngăn ngắn.

Tối hôm nay, sau khi xem xong Valerian and the City of Thousand Planets, mình chỉ có thể thốt lên rằng: VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI!

Mình yêu phim này phát cuồng :))))



Dù so với những gì mà Luc Besson - đạo diễn của phim đã làm được trong những thập kỉ trước, thì bộ phim sci-fi này có vẻ vẫn chưa tới được cái độ mà nó phải tới - cho xứng với những người anh chị của nó chả hạn, thì đây vẫn là một bộ phim mà bạn có thể tận hưởng nó một cách trọn vẹn về cả hai mặt nghe - nhìn. Mình ghét phải nói những điều mà những người khác đã nói đi nói lại, nhưng chính thế - Valerian and the City of a Thousand Planets chính là một giấc mơ siêu thực và rực rỡ sẽ nuốt chửng bạn vào trong lòng nó ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi bộ phim bắt đầu. 

Mọi thứ, từ những gì yên bình nên thơ, cho đến những thứ bầy hầy lớp nhớp nhất trong bộ phim này, đều tìm được cách thức của riêng nó để trở nên thật rực rỡ, thật lấp lánh, và khiến bạn phải thốt lên "UẦY!". Trải nghiệm thực sự của mình chính là có nhiều lúc chóng mặt muốn ói cả Coca (mình xem 3D, lại càng nhân thêm phần bá đạo của trải nghiệm) nhưng mắt vẫn không thể rời khỏi màn hình, vì sợ lỡ mất một khoảnh khắc của những thứ tuyệt đẹp ấy. 

Phản ứng của mình với phần hình ảnh của Valerian and the City of a Thousand Planets nó cũng giống như hồi đi xem Star Trerk: Into the Darkness - lần đầu đi xem 3D xong quyết ngồi đến hết credit để nhìn ngắm cho thỏa khung cảnh vũ trụ trong phim, kết thúc là bị nhân viên rạp chiếu đèn vào mặt vì tưởng mình đã chết ngắc trên ghế :))) Chỉ khác là hồi Into the Darkness là do "sốc văn hóa", còn lần này là vì sốc ý tưởng :))) Từ những người Pearl cho tới Bubble, từ đống nhân vật phụ đầu phim cho tới những con robot ở cuối phim, từ bối cảnh bầu trời với những đám mây kẹo bông ở đầu phim cho tới đàn quái thú dưới biển lúc Laureline đi tìm Valeriam, thực là không tìm được điểm nào để chê trách.

Và có lẽ vì phim đẹp như một cô hoa hậu, nên để tiết kiệm cho khán giả một phần sức lực, cốt truyện phim của Valerian and the City of a Thousand Planets lại quá chân phương. Mọi thứ đi từ A đến B, từ nguyên nhân tới kết quả theo một đường mà loài ngựa có lẽ còn phải ghen tị vì ruột của chúng nó cũng chẳng thẳng được đến như thế =))) Theo cá nhân mình, thì chất lượng của kịch bản Valerian and the City of a Thousand Planets chỉ nằm đâu đó ở tầm chấp nhận được, và hơi "cổ điển" - nếu từ cổ điển được diễn xuôi là những bộ phim cũ cũ thỉnh thoảng vẫn được chiếu lấp chỗ trống trên Cinemax vào cái thời mà nó còn chưa phải Max by HBO.

Nhưng lối ví von này tuyệt đối không nhằm mục đích chê trách nội dung phim kém chất lượng. Nó đơn giản, nhưng mạch lạc và thành công trong việc dẫn dắt khán giả đến chính xác nơi họ cần phải đến, thay vì để lạc mất họ, hay một vài nhân vật trong phim, ở đâu đó giữa hành trình. Và quan trọng nhất, nó đủ dễ theo dõi để khán giả, khi mắt đang hoa lên vì những thứ tuyệt đẹp trên màn hình, vẫn đủ nắm bắt được cốt truyện.

Điều duy nhất mình cảm thấy không hài lòng với kịch bản này, nếu tạm bỏ qua diễn xuất của các nhân vật (cái này sẽ viết ở đoạn dưới) hay việc các bác Trung Quốc (lại) lấy quyền nhà đầu tư mà làm lố ra, chính là việc phim thiếu đi sự phản biện. Nếu coi cả bộ phim là một phiên tòa luận tội Nhân-vật-nam-ăn-cà-rốt (tạm thời mã hóa như thế để các bạn chưa xem không bị spoil =))) Mà thực ra là spoil rồi =)))), thì dường như anh ta đã mất đi quyền được tự bào chữa - chứ chưa nói tới chuyện gọi luật sư. Hết nhân chứng rồi lại tới "công tố viên" kể hết tội này đến tội kia của anh ta, lôi từ bằng chứng này đến bằng chứng khác, nhưng tuyệt nhiên anh ta chẳng có lấy đôi câu cho ra hồn để tự biện minh cho mình, ngoài một cái lí do mà nói ra còn bị ghét cho thêm.

Tất nhiên đây là một điều tất yếu, vì xuyên suốt một bộ phim mà các nhân vật ai nấy chiều sâu tâm lí dày chỉ vừa bằng một tờ giấy bay bay, thì không thể nào tự dưng mọc ra một ông nhân vật quá nhiều góc cạnh được. Cơ mà mình vẫn mong mọi thứ diễn ra nhiều day dứt hơn một tí. Nhưng thực ra, chính cô gái mong đợi sự day dứt ấy chính là người đã thở phào khi mọi thứ khép lại một cách dịu êm nơi biển xanh cát trắng :))) Đúng là chẳng biết đâu mà lần :v

Lại nói về biển xanh cát trắng. Mình đã nghĩ tên phim nên chăng hãy sửa thành Valerian và câu chuyện tán gái qua 1000 hành tinh thì hơn :))) Thật là mệt mỏi vì mối tình gà bông của hai anh chị :))) Nhưng mặt tích cực của vấn đề, là cái sự ỡm ờ ấy của hai anh chị vẫn dễ nuốt trôi hơi cái chuyện tình sống sượng của anh Tôm Cui với chị nữ chính trong The Mummy mới ra rạp vào tháng trước. Chỉ được mỗi cái nết đấy, chứ còn đâu em thấy các anh các chị đều củ chuối như nhau cả. Chưa kể anh với chị, cứ ở với nhau xong bắt đầu tình cảm mùi mẫn là sẽ có những đoạn hội thoại đúng chất ôm cua không cần lề luôn :v

Dane DeHaan trong phim này đã mở ra một kỉ nguyên mới cho các nhân vật nam chính hành động. Không cần quá cao, không cần quá đô con, cũng không cần phong trần lãng tử. Anh chỉ cần cao vừa chạm đỉnh đầu bạn đồng hành/bạn gái mình, thể hình cũng chỉ cần vừa bằng với chị ý, với một khuôn mặt lúc nào cũng đần ra như vừa bị tẩn cho một trận =)))) Mới nhìn chưa quen trông sẽ kiểu hèn hèn nhưng thực ra anh mới là nam chính với khả năng dời non lấp bể (chứ tuyệt nhiên không phải cái anh kĩ thuật viên mặt hoa da phấn cao to đẹp giai trong phòng chỉ huy =)))))). 

Còn về phần Cara Delevingne, thì mình nghĩ cổ đã gặp may khi vào vai Laureline. Tất nhiên mình thấy được nỗ lực của Cara trong việc cải thiện khả năng diễn xuất. Nhưng giá mà sự tiến bộ trong diễn xuất diễn ra suôn sẻ được như quá trình thay đổi ngữ điệu từ Anh-Anh sang Anh-Mỹ của cô nàng. Vẫn một kiểu khuôn mặt thời trang thiếu linh hoạt đến nhàm chán, nhưng được sự lầm lì ngoài lạnh trong nóng của Laureline đỡ lại. Trường hợp của Cara - được nhân vật cứu lại diễn xuất có vẻ hơi trái ngược với cả bộ phim: được phần hình ảnh tuyệt vời nâng đỡ cho nội dung không quá vượt trội. Nhưng tóm lại, là "đôi lứa xứng đôi" - cả nhân vật và bộ phim.

Được biết, ngoài Valerian and the City of a Thousand Planets, anh đẹp và chị ngầu còn cùng nhau xuất hiện trong một phim khác cũng ra năm nay là Tulip Fever đóng chung với Alicia Vikander. Mình thực sự tò mò muốn biết, là ngoài hình ảnh couple trai hư - gái tsundere ra, thì hai anh chị còn tạo ra được thêm kiểu kết hợp nhân vật nào nữa =))

Kết luận lại, sau một bài viết rất dài và lan man nhiều chủ đề, Valerian and the City of a Thousand Planets là một phim mà bạn có thể yên tâm thưởng thức mà không phải lo ngại quá nhiều về chất lượng (cứ giả vờ không nghe thấy mấy tiếng Trung vang lên như chưởng Tàu trong phim đi nhé). Và trên đà tấn tới, xem xong phim này hãy về tìm xem The Fifth Element (Nguyên tố thứ năm) để thấy trai anh hùng, gái thuyền quyên nó thực sự là như nào nhé :))))

- Cà -

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

[Trà sữa cho tâm hồn - Số 132] LƠ LỬNG GIỮA THINH KHÔNG




1. Mặt trăng quả thị
Ngày tháng Chín vẫn nắng oi ả. Nắng biến con đường gạch lát xương đã cá bạc màu thành dòng sông sáng loá. Tôi khum hai bàn tay lên che mắt, nhìn một lượt không gian yên tĩnh xung quanh mình. Luôn có một thứ gì đó mất đi, hoặc bị thay thế so với quang cảnh cuối mùa hè trước mà tôi còn nhớ được.
Đôi mắt đang nheo lại của tôi dừng lại phía bên kia đoạn tường gạch mộc  thấp. Lấp ló giữa tán cây um tùm, tương phản mạnh mẽ với sắc thẫm của những chiếc lá đang vào độ xanh tươi nhất, là khuôn mặt em. Bóng nắng làm khuôn mặt em trở nên nhợt nhạt, nhưng đôi mắt hấp háy cùng khuôn miệng cười rạng rỡ vẫn sống động lạ kì.
“Chào em!” – Tôi nhoẻn cười, cảm nhận được nỗi buồn trong lòng mình đã nhẹ nhàng tan đi như sợi mây mỏng giữa bầu trời ngày nắng gắt. Cô gái trước mặt tôi chính là sợi dây nối giữ những mảnh kí ức đứt quãng của tôi ở vùng ngoại ô yên tĩnh này thành một dòng chảy liên tục. Em là người bạn đầu tiên của tôi, trong mùa hè đầu tiên, và tiếp tục là người bạn duy nhất của tôi trong những mùa hè của một thập kỉ sau đó.
Một thập kỉ, trong cuộc đời mới vỏn vẹn 17 năm, dài như quãng thời gian của cả một đời người.
“Em làm gì trên đó thế?” – Tôi vẫn tiếp tục hỏi vọng lên trong tư thế kì cục.
“Em hái thị.” – Em trả lời, nhoài người qua đoạn tường thấp, chìa cánh tay khẳng khiu về phía tôi. Trong lòng bàn tay em, giữa những ngón trắng xinh là quả thị chín vàng ươm, tròn vành vạnh như mặt trăng đêm rằm. “Đây là năm đầu tiên anh về quê muộn như thế này nhỉ? Đã vào thu mất rồi.”
Tôi đáp lại câu hỏi của em bằng một nụ cười. Nụ cười ẩn giấu một điều bí mật. Một điều bí mật nhỏ xinh mà trong những bức thư tay viết gửi cho nhau suốt cả một năm vừa qua, tôi vẫn chưa dám hé lộ.
2. Cân bằng tan vỡ
Bà ngoại tôi từng là nhà văn. Nữ văn sĩ Hoàng Lan với những tiểu thuyết diễm tình chìm đắm trong bi kịch và nước mắt. Mùa Hè năm tôi mười hai tuổi, tôi và em  ngồi bên nhau dưới bóng hoàng lan bên hiên nhà, chúi đầu vào cuốn tiểu thuyết cũ mà tôi tìm thấy dưới chiếc gối bà vẫn hay nằm. Dòng chữ đỏ đầy khoa trương trên bìa sách viết rằng đây cuốn tiểu thuyết cuối cùng của nữ văn sĩ Hoàng Lan.
“Ôi, chú nhân vật chính có tên giống anh này! Còn cô nhân vật chính cũng tên là Trà giống em luôn. Hay thật anh nhỉ, cứ như mình đang ở trong sách ấy!” – Phát hiện của em đã kéo hai đứa trẻ con chúng tôi vào trò chơi tưởng tượng đầy mới mẻ.  Giữa khu vườn mùa hè tĩnh lặng, chúng tôi trở thành hai nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết của bà: nhắm mắt đứng dưới tán hoàng lan mà ngỡ mình đang dạo bước trong rừng hoàng lan, lấy trộm bột đường từ bếp nhà Trà rồi cùng làm ra một thứ bánh chẳng rõ hình thù mà cứ ngỡ nó là bánh trôi bánh chay trong mâm cỗ ngày Tết Hàn thực mà người goá phụ tên Trà trong câu chuyện đã chuẩn bị cho chàng nhà văn…
Cơn hoang tưởng của hai đứa trẻ con chỉ thực sự chấm dứt khi “mâm cỗ Tết Hàn thực” khiến em phải đi cấp cứu ở trạm xá vì ngộ độc, còn tôi thì được mẹ cho một trận đòn quắn đít. Cuốn tiểu thuyết cũ còn chưa kịp đọc tới trang cuối cùng cũng bị tịch thu. Ôm cái mông vẫn còn lằn những vệt tấy đỏ, tôi khóc toáng lên, chạy theo níu tay, cố sức cứu lấy cuốn sách vô tội đang dần biến thành những mảnh vụn dưới cơn giận của mẹ.
Hơn cả nỗi sợ hãi, tôi cảm thấy cùng lúc sự giận dữ và hối hận đang nhấn chìm đầu óc mình trong cơn mụ mị. Tôi giận dữ vì mẹ đã xé cuốn sách của bà, tôi giận dữ vì mãi mãi tôi không thể biết được kết thúc của câu chuyện đang đọc dở, rằng anh chàng nhà văn trẻ tuổi si tình có cùng người góa phụ chàng yêu vượt qua được những cấm cản và định kiến để đến được với nhau hay không. Tôi hối hận vì ở góc nhỏ phía xa trong khung cảnh hỗn loạn những nước mắt và cuồng nộ ấy, bà tôi đang lặng lẽ quan sát tất cả.
3. “Dưới bóng hoàng lan”
Tôi không hé răng với em nửa lời về cơn thịnh nộ của mẹ tôi ngày hôm đó. Em không hỏi tôi về cuốn sách biến mất, thế là hòa. Cuốn sách không còn, trò chơi tưởng tượng chấm dứt, nhưng dư âm của nó, hay đúng hơn là vùng phi thời gian mà nó tạo ra trong suốt mùa hè năm ấy, đã thay đổi chúng tôi mãi mãi.
Trở về thành phố phương Nam sau kì nghỉ hè đầy những biến động ấy, tôi viết lá thư đầu tiên gửi em. Đội mưa, đạp xe đến bưu điện, nhét lá thư vào hòm thư màu vàng chóe, tôi run rẩy và bồi hồi, như thể đang ném đi một phần của chính mình vào vùng vô định. Lá thư hồi đáp của em sau đó đã gây ra một vụ scandal nho nhỏ giữa ngôi trường cấp hai bé nhỏ. Đọc lá thư với những con chữ xinh xắn viết bằng bút mực tím ấy, tôi có cảm giác như thể phần cơ thể trôi dạt của mình đã được em tìm lại.
Trong những năm sau đó, ngoại trừ những mùa hè trở về thăm bà ngoại, tôi và em cứ gửi thư tay qua lại giữa hai đầu đất nước, kể cho nhau nghe những chuyện nhỏ xinh, những nỗi buồn, những niềm vui không đầu cuối. Một năm, hai năm, rồi ba năm… đến lúc tôi nhận ra, thì dòng địa chỉ người nhận trên những lá thư em gửi cho tôi đã thay đổi từ ngôi trường cấp hai thành ngôi trường cấp ba nằm ở quận kế bên từ lúc nào.
…
Xế chiều, Trà mang sang nhà tôi một cái rá xinh xinh đựng dăm quả thị tròn, to và vàng bóng. Em đặt những quả thị vào chiếc đĩa sắt tráng men xanh của bà, rồi chúng tôi cùng nhau đi ra vườn. Hai đứa đến bên gốc cây hoàng lan quen thuộc, tôi để em ngồi trên chiếc ghế băng đã cũ mòn, còn mình, vì ý tứ, đứng tựa vào thân cây, giấu mình sau đám cành lá lòa xòa. Giữa những chiếc lá nửa xanh nửa vàng, tôi chợt thấy mình đang đóng vai em – lấp ló giữa những cành thị, lặng lẽ quan sát, chờ đợi đến khoảnh khắc mình được nhận ra. Sự liên tưởng ấy khiến tôi bất chợt nhận ra sau bao năm tháng, dòng địa chỉ người nhận trên những lá thư tôi gửi em chưa bao giờ thay đổi. Như thể em và vùng ngoại ô này đã hòa làm một, chờ đợi tôi quay trở về.
“Anh nhìn gì vậy?” – Trà nghiêng người hỏi tôi.
“Cho em này!” – Tôi vụng về bứt những bông hoa hoàng lan chín đưa cho em. Bông hoa chín nục vừa chạm vào đã vỡ ra thành một nhúm những cánh hoa màu vàng ruộm. Em giữ những cánh hoa thuôn dài thơm ngát ấy giữa lòng bàn tay, khẽ đưa lên mũi ngửi. Tôi bỗng ước được thay thế những cánh hoa ấy bằng những ngón tay mình. Đan giữa những ngón tay của em.
…
Tuổi 15, cũng là lúc tôi có những ý tưởng đầu tiên về sự xuất hiện đặc biệt của em trong cuộc đời tôi, và ngược lại. Tất cả bắt đầu từ lá thư của Trà viết cho tôi, hỏi rằng liệu tôi còn nhớ cuốn sách của bà tôi mà hai đứa từng đọc dở khi con bé, cuốn sách về anh nhà thơ vì đem lòng yêu mến người goá phụ mà đã tìm cách dọn đến ở gần nàng. Trong lá thư hồi đáp, tôi chỉ trả lời qua loa rằng mình có nhớ, cố gắng không đào sâu thêm vào sự kiện đã qua. Nhưng dường như cuốn sách ấy đã trở thành nỗi ám ảnh của Trà. Trong lá thư tiếp theo, em kể đã tìm thấy trong di cảo của ông mình – một nhà phê bình văn học ít tiếng tăm, những trang nhật kí viết về quãng đời trước khi ông lấy bà và sinh ra bố mẹ em. Những trang nhật kí của ông nội Trà không ngờ lại hé lộ trước mắt tôi một chương tưởng chừng đã bị quên lãng trong cuộc đời bà tôi. Chương cuộc đời mà trong đó, bà ngoại tôi là người goá phụ với cô con gái độc nhất, và ông của Trà, là chàng nhà thơ si tình.
…
“Thật buồn cười là dù chúng mình đã cùng nhau trải qua rất nhiều mùa hè cùng nhau trong khu vườn này, chúng mình vẫn lại để lỡ mất mùa hè cuối cùng anh nhỉ?” – Trà bất ngờ đổi hướng câu chuyện bằng việc tung ra thông tin lạ lẫm. Trong bóng chiều chạng vạng đang chậm rãi đổ xuống khu vườn, sắc da nhợt nhạt của Trà khiến cô trông như thể một bức tượng bằng đá, với mái đầu cúi thấp và khuôn mặt buồn bã.
“Em nói gì cơ?” – Nỗi bất an dâng lên trong tôi, như thể em đã linh cảm được điều bí mật mà tôi đang che giấu.
“Suốt một tháng qua, liên tiếp có những nhóm người đến xem và đo đạc khu đất này. Có vẻ như mẹ anh đã quyết định bán mảnh đất này đi đúng không?” – Em nhìn thẳng vào tôi, cười. Chỉ đến lúc này, tôi mới bàng hoàng nhận ra ánh lấp lánh trong mắt em đã vụt tắt từ lúc nào.
“Nhưng chúng mình vẫn còn những mùa hè, và anh, và cả em nữa. Anh sẽ vẫn về thăm em vào mỗi mùa hè…” – Tôi đáp, cảm thấy giọng mình đang dần trở thành một tiếng thở dài yếu ớt.
“Em cũng sẽ không còn ở đây chờ anh vào mỗi mùa hè nữa.” – Trà đáp. Tôi có cảm giác mình nghe thấy tiếng những giọt nước mắt rơi trên gò má em. Và cả tiếng những giọt nước mắt tưởng tượng đang rơi như mưa trong lòng tôi nữa.
4. Hệ quy chiếu
Trà đã về. Chỉ còn lại tôi giữa bốn bề rỉ rả tiếng côn trùng. Trên bàn thờ bà, những quả thị Trà mang sang đã ướp đẫm màn đêm trong ngôi nhà vắng lạnh hơi người bằng thứ mùi hương ngọt ngào và thanh mát. Một cơn ớn lạnh sống lưng khiến tôi vùng dậy, bật sáng tất cả bóng đèn trong mọi ngóc ngách của ngôi nhà. Nỗi sợ hãi chậm rãi nhen lên trong lòng tôi. Sợ hãi bóng tối bên ngoài song cửa, và sợ hãi sự tĩnh lặng bên trong ngôi nhà.
Nỗi sợ của tôi liệu có phải là thứ mà bà ngoại thường cảm thấy, vào mỗi buổi chạng vạng trong cuộc đời mình? Liệu ở thành phố phương Nam, mẹ tôi có đang trải qua cảm giác giống như bà đã trải qua, khi con trai duy nhất của mẹ bỏ nhà ra đi, như cái cách mẹ đã bỏ bà tôi ra đi nhiều chục năm về trước?
…
Tôi bị đánh thức vào lúc sáng sớm bởi tiếng lũ chim líu ríu trong khu vườn. Phải mất một lúc lâu đầu óc chây lì của tôi mới định vị được khoảng không – thời gian mà tôi đang hiện hữu. Không phải những ngày mùa hè của tuổi mười hai, mà đã là mùa thu của những năm mười bảy tuổi. Không phải bắt đầu một ngày rong chơi với cô bạn thân thiết, mà là bắt đầu ngày cuối cùng của cô ấy trong căn nhà giữa vùng ngoại ô yên ả.
Chiều qua, Trà đã nói gì đó với tôi, đại loại thật trớ trêu làm sao khi hai gia đình không có mối liên hệ cụ thể nào với nhau, lại cùng đi đến quyết định bán xới đất đai của cha mẹ họ trong cùng một năm. “Ít nhất em có anh ở đây, ngay trước khi em phải rời đi. Đấy cũng coi như một điều may mắn. Nhưng những điều may mắn chẳng bao giờ tồn tại lâu dài.” – Đó là điều cuối cùng Trà nói với tôi, trước khi hai đứa chia tay dưới mái cổng gỗ. Tôi đã để vuột mất cơ hội thổ lộ với Trà điều bí mật của mình. Không phải chuyện ngôi nhà, mà là một điều rất khác.
Suốt buổi sáng ngày hôm ấy, tôi đã ngồi dưới tán hoàng lan, đờ đẫn, mụ mị. Không có bất kì suy nghĩ nào nảy ra, cũng không có bất kì thông tin nào từ thế giới xung quanh được tiếp nhận. Chỉ cho đến khi tiếng đồ đạc bị xê dịch, tiếng người tranh cãi vọng lại từ bên nhà Trà tắt hẳn, thế giới xung quanh mới ùa đến bên tôi, đầy những đổ vỡ và mất mát.
Tôi thấy mình lại là thằng nhóc tuổi mười hai, len lén nhìn bà ngoại cặm cụi nhặt nhạnh những mảnh rách nát của cuốn tiểu thuyết cũ, gom lại thành đống nơi góc vườn, rồi châm lửa đốt. Bà ngoại ngồi ở góc vườn cả chiều hôm ấy, đốt hết những cuốn sách của mình. Mẹ tôi ngồi trong nhà, quan sát tất cả bằng khuôn mặt câm lặng. Tôi đã sợ hãi rằng một phần nào đó trong bà ngoại tôi đã chết vào buổi chiều ngày hôm ấy. Cái chết tượng trưng cướp đi mất một phần nào đó của tâm hồn tôi. Có lẽ là phần trái tim dành cho lòng vị tha.
5. Lơ lửng giữa thinh không
Tóm tắt cuộc đời tôi đến giờ phút này, tôi có một người mẹ vào thuở niên thiếu đã bỏ nhà ra đi để phản đối việc tái hôn của mẹ mình, tôi có một người bà đã hi sinh hạnh phúc của đời mình để chiều lòng cô con gái duy nhất, người sau này sẽ bỏ lại bà giữa tuổi già cô độc trong căn nhà cũ. Tôi cũng có một cô bạn thanh mai trúc mã, người hoá ra lại là cháu gái của người đàn ông bà tôi đã phải lòng khi xưa. Chúng tôi đã cùng lớn lên bên nhau, qua những lá thư, qua những mùa hè dưới mái nhà của bà ngoại, và trong thế giới ảo tưởng xây dựng nên từ cuốn tiểu thuyết - hồi kí của bà. Bà tôi đã mất, tôi không thể tìm được tiếng nói chung với mẹ mình, và cô gái ấy đã quyết định bước ra khỏi thế giới tưởng tượng mà hai đứa đã cùng xây dựng bao năm qua.
Thực tế phũ phàng đã chứng minh, là tôi chẳng còn gì trong tay, ngoài một trái tim ê chề hối tiếc. Về những việc mình đã làm, về những việc mình đã không làm, và về những việc đáng ra mình đã phải làm. Tôi đã không nói lời tạm biệt Trà trong khi đáng ra tôi phải làm thế, tôi đã bỏ nhà đi thay vì nói với mẹ những suy nghĩ của mình, tôi đáng ra đã phải đưa bà vào nhà trong buổi chiều hôm ấy, nhưng cuối cùng lại để bà ở đó, và sau cùng, một cơn gió độc đã khiến bà ngã gục…
Điều duy nhất đáng được ghi nhớ trong những ngày hỗn loạn ấy có lẽ chỉ là mẹ tôi đã đi đến quyết định sẽ không bán đi mảnh đất có ngôi nhà cũ của bà. Chúng tôi có một cuộc chuyện trò nho nhỏ dưới hiên ngôi nhà cũ. Cuộc trò chuyện mà trong đó, chúng tôi không phải hai mẹ con, mà là hai thiếu niên tuổi mười bảy với ngổn ngang muộn phiền. Mẹ tôi kể cho tôi về người mẹ của mẹ, về sự ích kỉ khi lo sợ tình cảm mẹ dành cho mình sẽ bị một người đàn ông khác cướp mất, về sự chống đối và quyết định sai lầm đã khiến mẹ ân hận suốt cả cuộc đời. Phần tôi, tôi kể cho mẹ tôi nghe câu chuyện về tôi và em. Cuộc chữa trị tâm lí nghiệp dư ấy chẳng dẫn chúng tôi đến kết quả cụ thể nào, nhưng ít nhất, nó khiến trái tim chúng tôi không vỡ tan thành từng mảnh.
…
Trà không gửi thêm bất kì lá thư nào sau khi em chuyển đi cùng gia đình. Còn tôi, tôi đã viết cho em hàng tá những lá thư không gửi. Sáng hôm ấy, cơn giận hờn đã làm tôi lú lẫn tới độ quên đi việc em sắp bước vào một vùng không gian mà tôi không hề biết đến, và em là người duy nhất có quyền trao vào tay tôi sợi chỉ đỏ dẫn đường. Có lẽ dưới bóng hoàng lan năm ấy, em đã không sai khi hỏi tôi liệu tôi và em có phải phần nối dài của tuổi trẻ mà ông bà hai đứa đã để vuột mất hay không. Đó chỉ có thể là lí do hợp lí duy nhất lí giải việc tại sao chúng tôi gắn bó với nhau đến như vậy. Tôi và em, chúng tôi chỉ là dư âm của mối tình xưa cũ, được bảo quản vĩnh viễn trong lớp hổ phách tạo thành từ không gian vùng ngoại ô chói chang nắng hè.
“Nhưng nếu vậy, một ngày kia, khi thoát ra khỏi lớp hổ phách vĩnh cửu, liệu chúng mình còn nhìn thấy nhau theo cách mà chúng nhìn thấy nhau trong khối hổ phách không?”
Tôi đã không thể giúp em trấn an nỗi sợ hãi ấy. Bởi một cách nào đó, nó cũng là nỗi sợ hãi của chính tôi. Tôi sợ em sẽ cùng đáp án của câu hỏi ấy quay lưng bước ra khỏi cuộc đời tôi mãi mãi. Tôi cũng sợ chính tôi sẽ đột ngột nhận ra chúng tôi chỉ là những người xa lạ, và sự tồn tại đặc biệt kia chỉ là hình ảnh bị khúc xạ qua lớp màn thời gian màu hổ phách mịt mùng.
Đáng lẽ trong khu vườn buổi chạng vạng ấy, tôi nên để bàn tay mình thế chỗ những cánh hoa hoàng lan, siết chặt lấy bàn tay với những ngón nhỏ xinh của em. Đó sẽ là câu trả lời giản dị và chân thành nhất. Nhưng rồi tôi đã chùn bước, đã để nỗi sợ hãi của em lan sang mình, để mãi đến tận sau này, trái tim tôi vẫn chỉ là một mặt trăng cô độc, lơ lửng giữa thinh không.
Phan Hải Anh







Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

Dị chủng

Được ra mắt vào năm 2009, là sáng tác chung của bộ đôi tác giả Guilermo del Toro và Chuck Hogan, Dị chủng (tên gốc: The Strain) là tác phẩm mở đầu cho bộ ba tiểu thuyết về đề tài thảm họa hậu tận thế, cũng chính là cơn ác mộng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi bản năng sâu thẳm nhất của loài người - nỗi sợ bóng tối.



Một chiếc máy bay chở trên mình hơn hai trăm hành khách đột ngột "ngưng" hoạt động ngay trên đường băng chỉ tích tắc sau khi hạ cánh. Tất cả hệ thống điện đều bị ngắt, mọi phương tiện máy móc đều ngừng hoạt động. Chiếc máy bay vừa một phút trước còn chở đầy những con người đầy sức sống, bỗng chốc trở thành nấm mồ lạnh giá, khổng lồ, và ẩn chứa tai ương. Nó, giống như mọi điều xuất hiện trong cuốn sách này, đều là những biến cố xấu không tưởng đột ngột xảy ra ngay trước vạch đích của một hành trình tưởng như đã vô cùng trơn tru hoàn hảo.

Sẽ không sai nếu nói chiếc máy bay "chết" kia, các hành khách của nó, và từng nhân vật xuất hiện trong cuốn sách này, chính là những thể khả năng khác nhau của cùng một phép thử - liệu con người có đang đánh mất đi sự cảnh giác bản năng của mình? Trong một thế kỉ được phủ trong ánh sáng - cảm giác của an toàn, liệu con người có đang sao nhãng trước những hiểm nguy nguyên thủy, những thứ từng được họ đồng hóa với bóng đêm đầy tai ương và chết chóc? Liệu họ có quên đi rằng, bản thân mình cũng chỉ là một sự tồn tại trong chuỗi thức ăn thay vì vươn lên nắm quyền kiểm soát nó? Và cuối cùng, con người hiện đại nhạy bén đến đâu trong cuộc chiến bảo vệ giống nòi mình?

Ba câu hỏi tưởng như vô thưởng vô phạt trong những tình huồng đời thường lại trở thành yếu tố tiên quyết chí phối mạch tình tiết của Dị chủng. Quyền lực, tham vọng, lợi ích... có quá nhiều thứ gây ra sự sao nhãng cho một con người ở thì hiện tại. Hành động của họ bị chi phối bởi nhiều thiết chế xã hội hơn những người tổ tiên của mình với tiếng hú cảnh báo đồng loại mỗi khi nhận ra nguy hiểm. Sự huỷ diệt hàng loạt của một dịch bệnh chết người không thể nguy hiểm hơn sự hoài nghi của người dân dành cho chính phủ mà họ bầu ra; một kịch bản được dàn xếp và một ai đó bị buộc tội sẽ là phương pháp chữa trị hiệu quả hơn nhiều những cuộc điều tra hay biện pháp chống trả... đó là thế giới mà Erp và những người đồng nghiệp/đồng đội của anh phải đối mặt. Trận chiến của vị bác sĩ đến từ Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh không diễn ra trong chiếc máy bay như  hầm mộ khổng lồ cất giấu hơn 200 xác người đã chết, theo cách khó tin nhất từng được biết đến, mà là thế giới bên ngoài chiếc máy bay, với báo chí, với an nguy của cả một thành phố, và với cả những âm mưu của một tổ chức đang náu mình trong bóng tối, thỏa mãn quan sát khung cảnh đang chậm rãi bầy ra trước mắt.

Đó là phiên bản thế giới của Dị Chủng, một phiên bản chân thực được phản chiếu qua thế giới của những con quái vật hút máu với xúc tu màu đỏ rực gớm ghiếc.

Khác với những bộ truyện cùng đề tài, Dị chủng duy trì một lối kể nhẩn nha, chậm rãi tường thuật lại những sự kiện đứt quãng xảy ra trên một phạm vi rộng lớn của diện tích, và số lượng khổng lồ các nhân vật bên lề. Tất cả họ đều được quyền cất lên tiếng nói, và thông qua tiếng nói đó, họ thể hiện được mình: kẻ nhút nhát, kẻ cuồng tín, kẻ tự phụ, kẻ mù quáng... Họ có thể là bất kì ai, thậm chí có thể là cả người lạ mặt bạn chạm trán nơi góc phố. Họ chính là sự đa dạng của cuộc sống này, nhưng sau cùng, họ đều chia sẻ một giá trị bình đẳng - tất cả đều là con mồi yếu ớt dưới tay kẻ săn mồi khát máu. Sự đổ đồng giá trị ấy khiến người ta cuối cùng cũng phải đặt ra câu hỏi: vậy đâu mới là giá trị làm nên sự khác biệt giữa những con người - như trong tình huống này, quyết định việc họ sẽ sống hay chết, sẽ là kẻ chiến thắng vinh quang thay vì bị biến thành một trong hàng trăm con quái vật hút máu ẩn mình trong thành phố, chờ đợi cơ hội để quay trở về tấn công chính những người thân thiết của mình? Đáp án cho câu hỏi ấy chỉ nằm trong hai tiếng "bản năng". Bản năng sinh tồn, bản năng mách bảo họ tin vào điều đúng đắn, tinh vào những giá trị cần được bảo vệ. Bản năng ấy mang lại cho họ sức mạnh, giữ cho họ tránh xa hiểm nguy, hoặc nó cũng chính là thứ bùa hộ mạng, giúp họ trở về vẹn toàn sau những trận chiến.

Trong phần lớn thời lượng của Dị chủng, ma cà rồng được đề cập đến như một bầy đàn sinh vật nguy hiểm, lây lan với tốc độ chóng mặt thứ virus chết người khắp thành phố New York mà không thế lực nào có thể ngăn chặn được chúng trên quy mô lớn trừ ánh sáng mặt trời. Bầy đàn sinh vật ấy được mô tả ban đầu là một nhóm điên loạn vô tổ chức, bị chi phối bởi cơn khát máu, và không gì cả. Sự vô tổ chức, cùng số lượng không ngừng tăng lên sau mỗi đêm, cũng như cơn khát máu  không điểm dừng biến lũ ma cà rồng trong Dị chủng trở thành một cơn ác mộng, một thế lực phản diện thuần tuý dựa trên sức mạnh số đông để giành lấy thế thượng phong trước loài người. Và bởi ma cà rồng hành động theo bản năng, nên người đọc không hề cảm thấy khó chịu trước bức chân dung phản diện này. Chỉ cho đến khi quy mô của cuộc tàn sát được mở rộng hơn, với những mối quan hệ chồng chéo về lợi ích, những vấn đề thực sự mới bắt đầu xuất hiện - không phải vấn đề diễn ra trong câu chuyện, đó là thứ vấn đề "có gì đó không đúng" xảy ra khi bạn nhìn ngắm chân dung từng nhân vật.

Ông chủ tịch tập đoàn Stoneheart trong nửa cuối Dị chủng chính là nhân vật tạo cho người đọc cảm giác không ổn định từ đầu chí cuối. Là người đứng đầu tập đoàn Stoneheart, với một cơ thể ốm yếu, người đàn ông này sắm vai tay sai loài người làm việc cho chúa tể hung bạo. Nhưng khó có thể hiểu được mục đích mà người đàn ông này đang hướng tới là gì nếu chỉ quan sát riêng những phần có ông ta trong tổng chiều dài cuốn sách. Đặt giả thiết, nếu những gì người đàn ông này mong muốn là cuộc sống vĩnh hằng xa rời mọi đau đớn, thì rõ ràng ông ta không nên tìm đến một loài virus kí sinh sẽ huỷ hoại đến kiệt cùng cơ thể vật chủ của nó để cầu cứu. Còn ở một nhánh giả thiết khác, nếu người đàn ông này chỉ đơn giản là muốn nhìn ngắm cảnh thế giới này diệt vong cùng sự diệt vong của chính mình, thì có vẻ câu chuyện đang đi đúng hướng (nhưng rất tiếc, không phải hướng mà hai tác giả đang đi).

Song song với tuyến chuyện chính ở hiện tại, cuốn sách còn có một phần phụ lục giải thích về nguồn gốc của con ma cà rồng chúa. Phần truyện này đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ gốc gác các nhân vật quan trọng, nhưng một mặt khác, trong phút chốc, nó đã kéo người đọc quay trở lại thời của những cuộc diệt chủng người Do Thái diễn ra. Cuộc sống trong trại tập trung được mô tả trong những chương phụ lục, với những tên cai ngục hà khắc và không còn tính người, cũng chính là một hình ảnh bị bóp méo của những con ma cà rồng.Nhưng dù có nói gì đi nữa, bằng những chương phụ lục ấy, Dị chủng đã phần nào biến thành một cuốn sách viết về chiến tranh và những hệ luỵ của nó lên đời sống những con người.

Dị chủng kết thúc ở điểm vừa xinh sẽ là khởi đầu của một chương mới trong trận chiến chống lại loài ma cà rồng. Xét một cách tổng thể, đây là cuốn sách với những lựa chọn rất hiệu quả về góc nhìn, cách kể cũng như cách nhào nặn từng nhân vật đơn lẻ thành một đại diện tiêu biểu cho những tính cách đặc sắc của riêng họ, nghiên cứu sự tác động của tính cách ấy tới khả năng sống  sót của họ qua những trận chiến sinh tồn. Góc kể ấy cũng dã tạo ra cho người đọc một tác phẩm sci-fi quá ư tuyệt vời.

Tóm lại là: Bao giờ thì đến tập hai?

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

A Walk in the Clouds – Vì tình yêu xứng đáng được lắng nghe




A Walk in the Clouds giống như một ngôi sao băng rơi xuống cuộc đời tôi, trong đêm trước ngày cuối cùng của kì nghỉ lễ, giữa cơn chán nản thường niên mà những thứ đồ chơi quen hay sở thích quen thuộc không thể khoả lấp được. Bộ phim được chọn ra giữa một list dài các danh sách gợi ý vô thưởng vô phạt, và tôi đã chọn nó, chỉ vì nó là một bộ phim của thế kỉ trước, và nó có Keanu Reeves.

Bộ phim bắt đầu bằng một đoạn phim đen trắng, quay cảnh chiến tranh, rồi thành phố với cửa sông và những con tàu khổng lồ đưa những người binh sĩ quay trở về. Cảnh tượng ấy lập tức khiến tôi liên tưởng đến một bức tranh thời hậu chiến đầy những mất mát và khổ đau. Nhưng không, đó không phải A Walk in the Clouds, bởi khoảnh khắc tiếp sau đó, khi Paul – Keanu Reeves bước xuống tàu, phần “lịch sử” với hai sắc màu đen-trắng kết thúc, màu sắc xuất hiện, giống như cánh cổng dẫn vào một giấc mơ êm đềm xa rời những bi kịch mới kết thúc vào ngày hôm qua.

Giấc mơ ấy bắt đầu bằng niềm hân hoan của chàng cựu chiến binh tên Paul, ra mặt trận với tình thương yêu gửi lại người vợ nơi quê nhà – một mối tình tiêu biểu của thời đại ấy, được gói gọn trong lời đùa cợt “yêu nhau vào ngày thứ Sáu, cầu hôn vào ngày thứ Bảy, đám cưới vào ngày Chủ nhật và lên đường nhập ngũ vào ngày thứ Hai”. Người bạn của Paul cũng đùa rằng có lẽ Paul cũng chẳng thể nhớ nổi khuôn mặt của vợ mình, nhưng Paul khẳng định chắc nịch rằng anh vẫn nhớ. Và đúng vậy, Paul chưa một ngày quên cô.

Cuộc hôn nhân của Paul chính là ví dụ cho những ảnh hưởng của chiến tranh lên cuộc đời một con người. Ranh giới giữa sống và chết, nỗi ám ảnh về “thời gian còn lại” đẩy người ta đi đến chỗ sống vội vã và hối hả đưa ra những quyết định lớn trong cuộc đời – vì biết đâu mình sẽ chết ngay trong trận đánh đầu tiên của đời quân ngũ. Người ta có thể mong đợi gì hơn ở một cuộc hôn nhân chóng vánh, một cuộc hôn nhân giống nhiều hơn với một dấu tick trong danh sách những việc cần làm của một chàng trai trẻ với nỗi ám ảnh sẽ không sống đủ lâu để đi qua đủ những cột mốc trong cuộc đời mình?

Sau những ngày gượng gạo bên người vợ đáng lẽ ra phải mừng vui khi gặp lại, Paul xách vali lên đường, xếp lại kế hoạch cuộc đời đẹp đẽ mà anh đã dày công tưởng tượng suốt những năm trong quân ngũ. Có ý nghĩa gì đâu khi người phụ nữ của anh không muốn biết về chúng. Tất cả những gì cô muốn, là anh quay lại với công việc của mình – nhân viên tiếp thị sô cô la, và tạm thời biến mất khỏi căn nhà mà họ tưởng như sẽ cùng chia sẻ. Trên chuyến tàu đi Sacramento, Paul vô tình đụng phải một cô gái vô cùng xinh đẹp. Dù rằng với anh, cô giống với một “vận rủi” xinh đẹp. Một “vận rủi” mà anh vô cùng may mắn mới bắt gặp. 

Victoria -"vận rủi" may mắn của cuộc đời Paul


Từ tàu lửa chuyển sang xe khách, rồi từ xe khách bị vứt bỏ lại giữa đường vì trót làm anh hùng giải cứu mĩ nhân khỏi những kẻ quấy rối, chàng trai Paul, mệt mỏi và kiệt quệ, lại một lần nữa nhìn thấy cô gái mặc váy đỏ, giữa con đường mòn và bốn bề rừng núi. Cô gái ấy đang khóc, không phải vì người bà yêu quý đã bị sói dữ ăn thịt như trong câu chuyện kể mỗi đêm khuya. Cô khóc vì niềm hạnh phúc – cũng đồng thời là nỗi bất hạnh đang giáng xuống cuộc đời mình. Cô đang mang thai một đứa bé, nhưng cha của nó lại ruồng bỏ cô, và bố của cô sẽ giết cô vì chuyện đó.

Dưới vòm rừng yên tĩnh, nhìn thấy một cô gái đang cơn bối rối, không nơi nương tựa, chìm trong bế tắc, bạn sẽ làm gì? Chắc hẳn trong khoảnh khắc ấy, có một phần nào đó của Paul đã đồng cảm với tình cảnh mà cô gái Victoria đang gặp phải. Họ đều là những người bị quay lưng lại bởi người mình ngỡ như cả thế giới, ra đi mà không rõ mình phải đi đâu, hay cần gì. Có khác chăng, với Paul, chặng đường của anh còn ở phía trước, còn với Victoria, đã là chốn đường cùng. Và đó cũng chính là lúc, câu chuyện cổ tích bắt đầu giữa họ, khi Paul đề nghị sẽ giả làm chồng của Victoria và cùng cô về ra mắt gia đình. “Đến vào buổi tối, và ra đi vào sáng hôm sau.”

Điều buồn cười của tình huống này, với tôi, đó là cái kịch bản không-thể-nhạt-nhẽo-hơn-được, bị sử dụng tới độ nhàm chán trong những kịch bản phim truyền hình để câu nước mắt khán giả trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ 21, sao lại có thể vừa buồn bã lại vừa ngọt ngào đến vậy trong một bộ phim làm vào thập niên 90 của thế kỉ 20. Khoảnh khắc Paul đeo vào tay Victoria chiếc nhẫn của “cô dâu tháng Năm” – món đồ tặng kèm rẻ tiền trong hộp sô cô la anh mang theo người, thế giới trong bộ phim như bừng sáng, một thứ ánh sáng trong trẻo của lòng nhân hậu và sự sẻ chia không màng lợi ích.



Paul và Victoria trở về nhà cô – một trang trại trồng nho mà tổ tiên Victoria từ hàng trăm năm trước đã dày công gây dựng. Sự xuất hiện của đôi vợ chồng hờ được chào đón bởi cả trang trại một cách vô cùng ồn ào và náo loạn. Giống như cái ồn ào và náo loạn xảy ra với mọi gia đình khi họ chào đón một người thân yêu nơi phương xa quay về. Có tiếng cười, có những cái ôm, và cả những lời quát nạt. Nhưng trong khoảnh khắc đoàn viên ấy, ngay cả những lời quát nạt giận dữ cũng vẫn sẽ được ghi nhớ như những nụ cười.

Tiếp sau một bi kịch gia đình thời hậu chiến, một cuộc gặp gỡ hài hước và lãng mạn, A Walk in the Clouds mở ra trước mắt khán giả một bức tranh gia đình ấm áp tình thương giữa khung cảnh xanh mướt của những dây nho đang vừa độ quả chín. Gia đình ấy có một người cha lúc nào cũng quạu cọ, cảm thấy bị phản bội bởi cả gia đình vì chẳng ai đứng về phía ông trong cuộc đối đầu ngầm chống lại anh con rể bất đắc dĩ, có một người mẹ vừa dịu dàng vừa thông minh, có ông bà đã yêu nhau qua nhiều thập kỉ, thông thái và khéo léo, mềm mỏng giải quyết mọi việc theo cách của riêng mình. Đó là thế giới của Victoria ở vườn nho của gia đình – trang trại với cái tên giản dị “Đám Mây”, là thế giới mà cô vừa sợ hãi lại vừa yêu mến, vừa cố hết sức mình để che giấu và bảo vệ. Nhưng ở một khía cạnh khác của câu chuyện, dưới góc nhìn của Paul, đó lại là một giấc mơ đẹp mà cả cuộc đời này anh không bao giờ có được.

Nỗi bất hạnh ấy như một vệt mờ trên thành chiếc ly thuỷ tinh bóng sáng chứa bên trong nó thứ rượu vang hảo hạng được gia đình Victoria làm ra từ những trái nho trồng trên chính mảnh đất của họ. Vết bẩn ấy không khiến thứ rượu bớt đi mùi vị, nhưng rõ ràng nó khiến người thưởng thức đôi lúc phải cau mày. Bởi sau tất cả những hạnh phúc, những hài hước cười đùa khơi nguồn từ cuộc cạnh tranh trong im lặng giữa bố và con rể, hay sự tác hợp đầy ẩn ý của ông và bà, A Walk in the Clouds vẫn là câu chuyện về anh lính giải ngũ chơi vơi giữa mong muốn và thực tại, cô gái Victoria không tìm được cách để cất lên tiếng nói của mình, và thứ vừa là tình yêu chân thành mê đắm, vừa là thứ mặc cảm tội lỗi mà họ không thể nào vượt qua. Vì anh đã có vợ, còn cô mang thai đứa con của một người khác. Gia vị cho câu chuyện tình yêu bi kịch ấy là một người bố bảo thủ với nỗi ám ảnh về trách nhiệm với gia đình.



Đôi lúc, giữa bộ phim, tôi đã ghét Paul kinh khủng. Tôi ghét Paul vì tại sao anh cứ mãi bị ám ảnh bởi người vợ không xứng đáng mà buộc phải giữ mình tránh xa khỏi Victoria; tại sao sự tận tuỵ của anh với Victoria lại giống như một hình phạt? Không phải cả cuộc đời cô độc của Paul, anh chỉ mơ về một mái ấm gia đình, và suy nghĩ ấy đã giữ anh sống sót suốt cả cuộc chiến hay sao? Vậy mà khi báu vật ấy đến bên anh, trong dáng hình một cô gái mặc váy đỏ, Paul lại chần chừ quay lưng. Có lẽ sự thể ấy cũng có thể lí giải bằng hai từ “tận tuỵ”. Paul tận tuỵ với gia đình mà anh đang có, với một người vợ từ chối lắng nghe những suy tư của anh, từ chối đọc những lá thư anh viết từ mặt trận, không xuất hiện trong ngày anh từ chiến trường trở về… chỉ vì cô ấy là vợ anh, và đó là gia đình đầu tiên anh có được.

Một sự cứng đầu đáng ghét. Nhưng cũng đáng thương, và đáng yêu vô cùng.

Khoảnh khắc buồn nhất bộ phim với tôi, có lẽ là cảnh bình minh trên đường quốc lộ, Paul xin đi nhờ một chiếc xe tải. Người tài xế xe tải hỏi anh, qua lớp kính cửa, rằng Paul đi từ đâu tới. Paul trả lời, anh vừa dạo bước trên mây. Và người tài xế đáp, chào mừng anh trở lại mặt đất. Còn gì buồn hơn thế chăng? Khi tháng ngày hạnh phúc chỉ là cuộc tản bộ giữa những đám mây, nửa hư nửa thực, nửa này đáng tin, và nửa kia bất khả. Paul đã có được trong tay hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy yêu cầu anh một sự tráo đổi. Nhưng Paul không giống như nàng tiên cá Ariel sẵn sàng cho đi giọng hát của mình để đổi lại đôi chân bước đi trên mặt đất. Anh chọn trở lại mặt đất và sống với thực tại của chính mình. Khó có thể phân định rạch ròi quyết định của Paul là dũng cảm hay hèn nhát, bởi ở nhẽ nào đi nữa, nó cũng là sự hi sinh của chính anh, để bảo toàn những giá trị mà anh tận tuỵ vun đắp và bảo vệ. Ở khía cạnh đó, Paul phần nào đã trở thành một hình ảnh khác của người cha mà Victoria luôn kính sợ - người cha hi sinh cả cuộc đời mình để cống hiến cho gia đình, mà quên đi mất tình yêu thương của ông cũng chính là sự cống hiến. Bởi hạnh phúc của chính ông cũng đóng góp vào hạnh phúc của những người mà ông mong mỏi họ được hạnh phúc.



Tất nhiên A Walk in the Clouds không khép lại ở cảnh phim đó, nó chỉ là một nốt lặng để sau đó, bộ phim chuyển sang một chương mới, có mất mát và đau thương nhưng đầy tươi sáng và ngân nga mãi thanh âm của hi vọng và hạnh phúc đoàn viên. Nhưng với tôi, phiên bản bộ phim của tôi đã khép lại ở chuyến xe ấy, bởi theo một lối logic kì quặc nào đó, nó khiến tôi liên hệ tới chính cuộc đời riêng của Keanu. Anh giống như Paul khi ấy, đã không lựa chọn bước tiếp, mà đứng lại mãi với nỗi đau của riêng mình.

Hãy xem A Walk in the Clouds như cách bạn chậm rãi đọc một cuốn tiểu thuyết xưa cũ. Không phải vì bối cảnh chính của bộ phim là những năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II hay vì bản thân bộ phim đã là một sản phẩm của thập niên trước. Hãy xem nó thật chậm rãi, vì giữa từng lời thoại hay thẳm sâu trong thế giới của mỗi nhân vật, là một câu chuyện dài xứng đáng được lắng nghe.

Tình yêu cần được lắng nghe, và xứng đáng được lắng nghe. Quay lưng lại với tâm tư ấy, là người ta đã không còn xứng đáng với nó nữa rồi.
                                                                                                           

            Anh Phan.